Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2019

VỤ LẤN CHIẾM ĐẤT TẠI "VƯỜN RAU LỘC HƯNG" BỊ CƯỠNG CHẾ

Trước tiên mình nói về tấm ảnh đang được "bọn lợi dụng Công giáo chống chính quyền" truyền nhau rằng với cái tít rằng "Cộng sản cho xe ủi cán Giáo dân" (ảnh dưới), nếu nhìn kỹ sẽ thấy nhiều cái nực cười lắm:

1. Trong ảnh là 01 xe (màu đỏ) nhìn thoạt qua giống xe ủi đang ĐỨNG IM, KHÔNG HOẠT ĐỘNG. Chính xác là đang ĐỖ GẦN 01 GỐC CÂY.

2. Người trong ảnh nằm xuống đất, trên quần áo không 01 vết bẩn, cũng chả có vết bánh xích xe ủi qua?!

3. Xe ủi này biển số có cụm số "50 TĐ - 019.75", nếu ai tìm hiểu Luật Giao thông và các văn bản dưới luật kỹ thì sẽ biết xe mang biển "TĐ" là xe THÍ ĐIỂM, thực ra nó chính là mấy cái xe chở hàng hay chạy trên đường, chứ chả phải là cái xe ủi nào, ai dân Q9, Thủ Đức, Q6, Tân Bình, Bình Tân, Phú Nhuận sẽ biết ngay thôi, trước xe này được "thí điểm" từ năm 2011 đến nay... đáng buồn cười là xe này có biển 019.75, kiểu như năm 1975 ấy nhỉ !!!!!

Vậy, kết lại trong hình chả phải là "xe ủi" nào đang ủi "Giáo dân", đó là cái xe tải bình thường, cái xe ủi ĐỖ kế bên và cũng đang nằm im. Hiểu đúng thì đây là BÃI ĐỖ XE nào đó hoặc cũng có thể là BÃI ĐỖ XE tạm thời của các xe tham gia phá dỡ khu bất hợp pháp này.

Bây giờ ta sẽ tìm hiểu về "vườn rau Lộc Hưng" và nội dung liên quan.

1- Lịch sử "vườn rau Lộc Hưng"

Căn cứ theo Văn bản số 6035/UBND-NCPC, ngày 26/10/2006 của UBND TP. Hồ Chí Minh do PCT Lê Văn Khoa ký gửi Thanh tra Chính phủ có đoạn: "Khu đất có diện tích 4,8 ha tọa lạc tại Phường 6, quận Tân Bình thuộc một phần các thửa số 126-5, 128-5, 129-5 và 131-10-5, trước năm 1975 do Quốc gia Việt Nam (của Bảo Đại, không phải VNCH) và Hội đồng quản trị Công giáo địa phận Sài Gòn đứng bộ (đồng đứng tên). Theo đó, từ thời Pháp thuộc (trước Hiệp định Genevè năm 1954), toàn bộ khu đất bị Thực dân Pháp sử dụng làm bãi Ăng-ten".

Theo tài liệu lưu trữ thì Nha Giám đốc Viễn thông chế độ cũ quản lý và sử dụng khu đất làm Đài Ăng-ten. Năm 1955, Linh mục Đinh Công Trình đại diện Giáo xứ Lộc Hưng có làm giấy MƯỢN ĐẤT và đã được QUÂN ĐỘI PHÁP tại Sài Gòn đồng ý cho giáo dân ngụ tại khu vực kế cận mượn phần đất trống giữa các cột Ăng-ten để trồng rau vào ban ngày (không được làm vào ban đêm). Riêng phần không lưu vẫn được sử dụng phục vụ cho ngành viễn thông chế độ cũ (VNCH) làm Đài phát tín. Sau này Pháp rút, chế độ Quốc gia Việt Nam (của Bảo Đại) bị lật đổ bởi Ngô Đình Diệm thì phần đất này ban đầu vẫn được giao cho Giáo xứ Lộc Hưng sử dụng theo "Giấy MƯỢN ĐẤT", năm 1963 khi tướng Nguyễn Khánh nắm quyền chế độ cũ đã cho thu hồi khu đất này và giao cho Nha Giám đốc Viễn thông chế độ cũ sử dụng, quản lý cho đến 30/4/1975."

Như vậy trước ngày 30/4/1975, khu đất trên do Nha Giám đốc Viễn thông chế độ cũ quản lý và sử dụng làm Đài Ăng-ten, sau ngày 30/4/1975, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 111/CP, ngày 14/4/1977 theo đó khu đất này do Nhà nước và Trung tâm Viễn thông 3 tiếp quản và sử dụng làm Đài phát tín hiệu. Ngày 12/10/1991, Ban Quản lý ruộng đất Thành phố ban hành Quyết định số 07/QĐ-ĐĐ công nhận quyền sử dụng đất và khu nhà điều hành cho Bưu điện thành phố Hồ Chí Minh.

Qua đây có thể thấy:

- Năm xưa Bảo Đại vì muốn dựa vào Vatican để có sự ủng hộ của Phương Tây và các đạo quân Việt (gốc Công giáo) để chống lại Việt Minh nên đã đồng thuận cho Hội đồng quản trị Công giáo địa phận Sài Gòn đứng bộ (đồng đứng tên). Nói ra thì tức là bán đất cho Công giáo nhưng theo kiểu "kết hôn", chia tay thì chia tài sản.

- Sau này Ngô Đình Diệm tuy không ký kết văn bản gì trao đất mà chỉ tiếp tục cho phép Giáo dân Lộc Hưng được sinh sống dựa trên "Giấy MƯỢN ĐẤT" của Quân đội Pháp. Thế hóa ra Diệm công nhận phần đất đó của Pháp ?!!!!!!!

- Rồi khi Diệm bị giết thì chính phủ VNCH thay thế (vốn ghét Diệm) thu hồi luôn phần đất đó lại và giao cho Nha giám đốc Viễn thông (kiểu như Bộ 4T giờ) sử dụng, có điều thời kỳ 1964 - 1975 thì cái chế độ Ngụy quyền kia lên xuống những 05 - 06 chính phủ thay nhau lật đổ nên chả ai quan tâm khu đất đó, thế là Giáo dân Lộc Hưng vẫn ở đó.

- Và cuối cùng, năm 1977 thì Chính quyền CHXHCN Việt Nam thu hồi đất.

Kết luận, vậy rõ ràng cái gọi là "vườn rau" Lộc Hưng trên thực tế không hề có giấy tờ gì là của Giáo xứ Lộc Hưng hay của Đạo Công giáo. Nói tóm lại khu đất đó trước đây từng được Bảo Đại đem làm "của hồi môn" cho Đạo Công giáo để "mượn danh, mượn quân" sau này Ngô Đình Diệm bị giết nên mất chỗ chống lưng và đất bị thu hồi!

Tóm lại là Giáo xứ Lộc Hưng nói về lý làm "Giấy MƯỢN ĐẤT" tức là công nhận đất đó là của Pháp là thật sự không đúng rồi, có điều thời thế lúc đó thì cũng không trách được, tuy nhiên giờ Đất nước đã là 01 nước Độc Lập - Thống Nhất - Tự Chủ, và tuyên bố từ 02/09/1945 là cắt đứt mọi quan hệ pháp lý với Thực dân Pháp mà suốt bao năm Giáo xứ Lộc Hưng vẫn âm thầm dung túng cho Giáo dân VI PHẠM PHÁP LUẬT với cái lý đất của Giáo xứ (dựa theo Giấy MƯỢN ĐẤT) thì có đáng trách không ?!!!!!!!!

Nói về Dự án xây trường tại khu đất này thì:

Dự án xây dựng khu trường học công lập đạt chuẩn quốc gia do Ủy ban nhân dân quận Tân Bình làm chủ đầu tư (gồm 3 bậc học: 20 lớp Mầm non, 30 lớp Tiểu học và 45 lớp Trung học cơ sở) trên khu đất công trình công cộng có diện tích 49.320 m2 tọa lạc tại Phường 6, quận Tân Bình là một trong những công trình trọng điểm của quận.


2- Tại sao lại "cưỡng chế" và mức độ vi phạm


Vì lợi dụng trong Tết, cán bộ và ngày nghỉ lễ của cả nước, những kẻ chống đối mà ở đây là 89 hộ dân sống "phạm pháp" sẽ xây dựng mạnh nhất, đặc biệt là cuối năm, họ xây rất mau, không cần kiên cố, cũng chả cần theo kiến trúc gì, miễn là thành hình cái nhà là được, xây trong Tết luôn, chưa kể thuê nhân công xây giờ rất rẻ (kiếm tí chút ăn tết) nên xây sẽ được càng nhiều, càng nhanh. Cho nên phải "cưỡng chế" trước Tết, không thì qua Tết ở đó có mà thành pháo đài.

Cứ nhìn số liệu mà FB Bạch Hoàn đưa ra là 200 ngôi nhà trên 4,8 ha với 89 hộ dân thì biết 01 điều rằng từ ngày 28 tháng 8 năm 2009, UBND quận Tân Bình ban hành Quyết định số 1007/QĐ-UBND phê duyệt đồ án điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/500 khu công trình công cộng Phường 6, KHÔNG CÓ CHỨC NĂNG Ở... và cấm mọi hoạt động xây dựng, vậy mà sau 10 năm giờ ở đó đã có 200 căn nhà, cái này gọi là gì nếu không phải là "VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ XÂY DỰNG".

Chưa kể, 200 ngôi nhà với 89 hộ dân ????? Vậy mỗi hộ trung bình đang "sở hữu" bao nhiêu nhà ? Bảo là "dân nghèo" mà sao có tiền xây nhà dữ vậy ? 200 ngôi nhà này mới là số bị "phá dỡ" thôi chứ chưa phải là đã xử lý hết!!!

Mà sao 89 hộ dân này biết CẤM mà vẫn làm ? Bởi rõ ràng "chi phí đền bù" đối với đất đang có NHÀ Ở thì sẽ cao hơn là ĐẤT KHÔNG NHÀ!.

Có người bảo đây là "Đất Giáo xứ nhượng lại cho UBND", người đó trích hàng loạt văn bản UBND TPHCM giao đất cho Bưu Điện Thành phố, rồi chuyển cho UBND Quận Tân Bình... thế nhưng lại không đưa nổi cái gì chứng minh "đất giáo xứ nhượng cho UBND", trên thì trích hàng tá văn bản của chính quyền, dưới thì không trích gì của Giáo xứ. Kiểu như đánh lận con đen, khiến người đọc đọc đoạn trên thấy dẫn chứng đầy đủ cứ thế là tin luôn đoạn dưới!!!

Nói tóm lại, "nhượng hay không" thì rõ ràng 89 hộ dân và 200 căn nhà trên "vườn rau" kia là đang VI PHẠM PHÁP LUẬT!



3. Dư luận "công giáo" và người dân quanh "vườn rau" Lộc Hưng ra sao


Với diện tích 48.000 mét vuông (4,8 ha) Lộc Hưng được gọi là khu đất nằm tiếp giáp quận 10, nằm gần kề các quận Phú Nhận, Bình Tân và hướng đi quận 3. Đây cũng là Giáo xứ Lộc Hưng với nhà thờ Lộc Hưng xây lên đã lâu, với 89 hộ dân Công giáo sống ở đây từ sau năm 1975.

Theo lịch sử thì năm 1954, 30 hộ gia đình Công giáo được Tổng thống Ngụy quyền Ngô Đình Diệm sắp xếp đến khu đất Lộc Hưng sinh sống được chia ra thành một phần các thửa số 126-5, 128-5, 129-5 và 131-10-5, trước năm 1975, Ngụy quyền giao cho Hội đồng quản trị Công giáo địa phận Sài Gòn (cũ) đứng tên chủ đất (tức cho không số đất này). Sau ngày 30/4/1975 thì Hội đồng quản trị Công giáo địa phận Sài Gòn (cũ) đã bị giải tán kể từ ngày Tòa Khâm Sứ Vatican bị đóng cửa.

Ngày 12/10/1991, Ban Quản lý ruộng đất TP. HCM ban hành Quyết định số 07/QĐ-ĐĐ công nhận quyền sử dụng đất và khu nhà điều hành cho Bưu điện Thành phố, với diện tích 4ha089. Sau đó, UBND TP. HCM có Quyết định số 7564/QĐ-UB ngày 15/11/2001 giao đất cho Công ty TNHH Tư vấn Đầu tư Xây dựng Sài Thành, và Quyết định số 8220/QĐ-UB ngày 06/12/2001 giao đất Bưu điện Thành phố để đầu tư hạ tầng khu nhà ở dân dụng và nhà ở cán bộ, công nhân viên của Bưu điện tại Phường 6, quận Tân Bình.

Ngày 25 tháng 4 năm 2008, UBND TP.HCM có Quyết định số 1824/QĐ-UBND thu hồi khu đất này, giao cho UBND quận Tân Bình thực hiện Dự án công trình công cộng, và chung cư cao tầng phục vụ chương trình tái định cư của Thành phố và của quận Tân Bình.

Ngày 28 tháng 8 năm 2009, UBND quận Tân Bình ban hành Quyết định số 1007/QĐ-UBND phê duyệt đồ án điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/500 khu công trình công cộng Phường 6, KHÔNG CÓ CHỨC NĂNG Ở. Ngày 10/01/2013, Văn phòng UBND TP.HCM có Thông báo số 20/TB-VP về kết luận của Chủ tịch UBND TP Lê Hoàng Quân, có nội dung chấp thuận cho UBND quận Tân Bình lập Dự án đầu tư xây dựng Trường học công lập tiêu chuẩn quốc gia tại khu đất công trình công cộng Phường 6, quận Tân Bình.

Kể từ khi có Quyết định này thì việc "đền bù" (tiền) đối với 89 hộ dân khi được xử lý theo hướng lấy "Giá nhà nước đền bù cho xây dựng công trình công cộng", tức là rẻ hơn rất nhiều so với đền bù xây Chung Cư, chưa kể từ trước 2009 đến 2010 thì 89 hộ dân Công giáo đã thay nhau bán thửa đất của họ hàng trăm lần cho nhiều cò đất, dân BĐS để kiếm lời nhưng hàng trăm biên bản phạt te tua mấy tay Chủ đầu tư kia vì tội Xây Dựng Trái Phép đã được ban hành... Và cũng từ đó 89 hộ dân kia bắt đầu tự gọi bản thân là "Dân Oan Công Giáo"... quái nhỉ ? Xây TRƯỜNG HỌC chứ chả phải bán nền, phân lô mà họ cũng phản đối là sao ?"... Còn về phía những người dân Công giáo khác sống ở Tân Bình thì họ rất vui mừng vì sẽ có 01 CỤM TRƯỜNG HỌC tốt cho con em họ...có điều phải đến tận 10 năm sau, Chính quyền mới có thể bắt đầu thực hiện, mấy thế hệ con em Công giáo Tân Bình đã phải mòn mỏi chờ cái CỤM TRƯỜNG hết năm này qua năm khác, chỉ vì lòng tham của 89 hộ dân cùng Đạo với họ không chịu thừa nhận cái sai.

Ngày 21/7/2015, UBND TP.HCM có ý kiến chỉ đạo tại Văn bản số 508/UBND-QLDA-M về Dự án xây dựng cụm TRƯỜNG HỌC đạt chuẩn quốc gia tại khu đất công trình công cộng Phường 6, quận Tân Bình theo hình thức đối tác Công – Tư (hợp đồng BT).

***** Như vậy, căn cứ theo các điều Luật và Văn bản pháp luật cũng như việc cái HĐ quản trị Công giáo đã bị GIẢI THỂ kia thì khu "vườn rau" Lộc Hưng này trên thực tế sau năm 1975 cho đến 1991 là không thuộc quyền sở hữu của ai khác ngoài CHÍNH THỂ CHXHCN VIỆT NAM, đến năm 1991 thì chủ sở hữu của nó hiện nay là UBND quận Tân Bình, còn trước đó "vườn rau" này cũng không thuộc quyền quản lý của Ngụy quyền VNCH mà đã được chế độ này "chuyển nhượng" cho Giáo hội Công giáo Sài Gòn (tức là cho không Công giáo, đất Việt Nam mà cho không 01 đạo nào đó để thành khu tự trị ấy), sau này mọi giấy tờ cũng như các cơ quan, tổ chức tôn giáo này đều bị xóa sổ và không còn giá trị pháp lý nào.

Ngoài ra, theo tin tức nắm được thì quanh "vườn rau" Lộc Hưng này có đến hàng chục Nhà thờ, đạo họ, giáo xứ nhưng khi xảy ra chuyện thì ngay chính Giáo xứ Lộc Hưng cũng không có 01 chút động thái nào, ngay cả Dòng chuyên chống đối như Dòng mến thánh giá và các Giáo xứ, giáo phận khác trên toàn quốc hầu như đều IM PHĂNG PHẮC, lý do là vì sao: "Đơn giản là vì các Giáo xứ, Giáo phận, dòng, giáo họ" biết rõ rằng khu đất ấy chả có giấy tờ nào chứng minh 89 hộ dân Công giáo kia có quyền sở hữu hay quản lý, sử dụng; đó là chưa kể, "vườn rau" ấy trước giờ chẳng chia chút lộc gì cho các nơi".

Tóm lại đơn giản dễ hiểu thì khu đất được nói đến từ lâu là đất công, đã được chính quyền Tp Hồ Chí Minh quy hoạch xây dựng TRƯỜNG HỌC. Trong khi việc sử dụng khu đất theo mục đích quy hoạch chưa diễn ra thì một số hộ dân đã ra trồng rau để tự cung tự cấp. Và, lợi dụng sự buông lỏng, sơ hở của chính quyền trong quản lý họ đã đua nhau xây luôn cả nhà ở, nhà trọ khi chưa có giấy phép. Chưa kể nơi đây còn chứa chấp 01 số đối tượng nhiễm HIV, đối tượng chống phá Nhà nước đã và đang đi tù như: "Nguyễn Viết Dũng , Bùi Hiếu Võ, Phan Kim Khánh, Nguyễn Văn Hải,...

Câu chuyện cứ dùng dằng giữa hai bên khi chủ thể sở hữu đất thì chưa sử dụng, còn chủ thể chiếm dụng đất thì cứ cho đó là đất sở hữu của mình. Mọi việc chỉ thực sự rõ ràng khi chính quyền triển khai giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án xây trường. Và khi sự thuyết phục, vận động không đi đến đâu, các hộ dân chiếm dụng đất không thực hiện, còn thách thức, mượn danh Đức Chúa, Đức Mẹ tụ tập gây cản trở giao thông, dùng loa phóng thanh hô hào, kích động bà con giáo dân xuống đường biểu tình (nhưng bà con giáo dân quanh đó chỉ thấy phiền chứ chả thèm nghe theo).

Khi câu chuyện được nói ra từ những người chiếm dụng đất trái phép thì thật dễ hiểu, nó đã bị bóp méo và biến tướng. Và để duy trì lợi quyền của mình, họ sẵn sàng tung tin, dựng chuyện đặt điều, biến sự việc từ một hoạt động không mang màu sắc chính trị trở nên chính trị. Yếu tố tôn giáo đã được huy động để làm lớn sự việc.

Sự việc chỉ có thế. Lí do cốt yếu và cơ bản ở đây vẫn là lòng tham, sự bất chấp pháp luật của những người dân liên quan, người đứng ra phản đối việc cưỡng chế, thu hồi mặt bằng tại đây. Đấy cũng là nguyên nhân căn bản để những kẻ đục nước béo cò dễ bề thao túng và đẩy sự việc ra xa so với quỹ đạo thường thấy.




Hình ảnh người dân Công giáo sống xung quanh "vườn rau" Lộc Hưng RẤT THẢN NHIÊN đứng xem cảnh "cưỡng chế". Không có sự xô xát, cũng chả có hành động bạo lực nào. Hãy đặt câu hỏi xem 01 khu địa bàn 98% toàn dân Công giáo với hàng chục Nhà thờ... tại sao không một ai phản đối việc làm của UBND mà chỉ có 89 hộ dân sống "vô pháp luật" trên "vườn rau" đó suốt ngày la hét từ năm 2009 đến nay!

P/s: Có vẻ những Giáo xứ, Giáo phận Công giáo từ bắc chí nam nào đang "hot" lên vấn đề chống lại các mệnh lệnh hành chính với Chính quyền Nhân dân đều có chung 01 đặc điểm đó là "KHÔNG THÍCH CHO CON CÁI ĐI HỌC, VÀ KHÔNG ĐỒNG Ý XÂY TRƯỜNG HỌC"!

Nguồn: Bão lửa

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2019

TẠI SAO VIỆT NAM CÓ THỂ TỒN TẠI NHIỀU NGHÌN NĂM BÊN CẠNH MỘT "ĐẾ QUỐC" TRUNG HOA HÙNG MẠNH ?

1- Quan hệ Việt – Trung, Ân và Oán
Đầu năm 2012, Viện Nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam đã đăng bài nghiên cứu phản biện sắc bén của Tiến Sĩ Vũ Cao Phan. Bài viết này đã lược lại lịch sử quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ hàng nghìn năm nay và phân định khá rạch ròi đâu là ÂN, đâu là OÁN. Cổ nhân có câu "Ân đền oán trả". Truyền thống của người Việt Nam nói chung (đa số, không phải thiểu số) là "ân đền". Coi việc "đền ơn" như một nghĩa vụ của lòng nhân. Nhưng người Việt Nam không hiểu hai từ "Oán trả" theo cách hiểu của người Trung Quốc. Người Trung Quốc có câu: "Oan oan tương báo" có nghĩa là "lấy oán trả oán". Người Việt Nam có truyền thống "lấy ân báo oán, oán tất tan". Điều đó đã được Nguyễn Trãi tổng kết trong "Cáo Bình Ngô": “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn Đem chí nhân để thay cường bạo”. Trong lịch sử hơn 4.000 năm quan hệ giữa hai dân tộc, Trung Quốc đã gây ra 13 cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn và hàng trăm vụ khiêu khích, xâm lấn khác đối với Việt Nam. Và tất cả đều bị đánh bại, không sớm thì muộn. Mỗi lần tống tiễn xong những người khách không mời đến từ phương Bắc, người Việt Nam lại "trải chiếu hoa" đón tiếp sứ giả, cho sứ thần sang phương Bắc triều cống, tái kết hòa hiếu, lập lại quan hệ hòa bình giữa hai dân tộc. Điều đó không chỉ là chuyện "lấy ân báo oán, oán tất tan" mà còn là cách tồn tại của một dân tộc nhỏ nhưng vừa bất khuất, kiên cường, vừa mềm dẻo, giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ một cách khéo léo bên cạnh một nước lớn khổng lồ vào bậc nhất thiên hạ.


Để giữ được nước thì nhiệt huyết, đức hy sinh, ý chí xả thân và vũ khí hiện đại là chưa đủ. Phải có cả sự khôn ngoan, khéo léo, lựa thời chọn thế, biết mình biết người thì mới bảo vệ chắc chắn chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển và hải đảo của Tổ Quốc. Một trong những nét đặc sắc của sự khôn khéo của tiền nhân trong ứng xử với Trung Quốc là bên cạnh những cuộc Nam chinh xâm lược của Trung Quốc, trong lịch sử đã có nhiều giai đoạn hai dân tộc đã từng giúp đỡ nhau chống ngoại xâm, từng nương tựa vào nhau để tồn tại. Điều này có vẻ vô lý khi hình dung một quốc gia bé xíu như Việt Nam có thể giúp đỡ được người khổng lồ Trung Quốc. Tuy nhiên, đó lại là những sự kiện đã được lịch sử ghi lại bằng văn tự, di tích, lễ hội hoặc qua văn chương truyền miệng. Sau đây là một vài ví dụ tiêu biểu.

- Lý Ông Trọng: Vào thế kỷ thứ I trước Công nguyên, dưới thời trị vì của An Dương Vương, Lý Ông Trọng (tên thật là Lý Thân), người làng Chèm, một danh tướng người Việt đã được triều đình Âu Lạc cử sang giúp nhà Tần chống quân xâm lược Hung Nô. Đại Việt sử ký toàn thư thì chép rằng: Từ lúc ít tuổi, ông đến hương ấp làm lực dịch, bị trưởng quan đánh, bèn bỏ sang nước Tần, làm quan đến chức Tư lệ hiệu úy. Sách “Việt sử tiêu án” và sách “Việt điện u linh” cũng chép sự kiện này. Đền thờ Lý Ông Trọng được xây dựng từ năm 603 ở làng Chèm, nay thuộc phường Thụy Phương, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Ngọc Phả của đình Chèm cũng chép rõ công tích của ông. Lễ hội tưởng nhớ ông được tổ chức từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 5 âm lịch hàng năm.

- Nhà Trần cự tuyệt việc cho quân Nguyên – Mông mượn đường đánh Tống. Giữa thế kỷ XIII, Đế quốc Mông Cổ xâm lược và chiếm đóng nhiều quốc gia từ Á sang Âu và chuẩn bị đánh chiếm phía Nam Trung Quốc (Nam Tống). Hãn Mông Kha (Mongke) cử tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqatai) chiếm Đại Lý (Vân Nam) và đề nghị nhà Trần của Việt Nam cho mượn đường đánh tập hậu nhà Nam Tống. Triều đình nhà Trần thấy rõ kế “mượn đường diệt Quắc” của quân Nguyên nên cự tuyệt, bất chấp sự đe dọa “làm cỏ nước Nam” của tướng giặc. Ngày 17 tháng 1 năm 1258, quân Mông Cổ phát binh đánh Việt Nam từ hướng Vân Nam. quân đội nhà Trần dù phải bỏ Thăng Long nhưng kiên quyết kháng cự. Ngày 28 tháng 1 năm 1258, quân đội nhà Trần phản công, chỉ 10 ngày sau đã đánh đuổi quân Nguyên khỏi Đại Việt. Trong cuộc chiến này, Đại Việt vừa tự bảo vệ mình, đồng thời cũng là bảo vệ sườn phía Nam cho Trung Quốc.

- Tướng Tống và binh sĩ người Hoa trong quân đội nhà Trần. Năm 1278, quân Nguyên Mông đánh chiếm toàn bộ Trung Quốc. Hoàng tộc nhà Tống nhảy xuống biển tự tử. Nhà Tống diệt vong. Tuy nhiên, một đạo quân Tống hơn 1.000 người do tướng Triệu Trung cầm đầu đã đào thoát sang Đại Việt, được Trần Nhật Duật thu nạp và đưa về Thắng Long. Ngày 21 tháng 7 năm 1284, quân Nguyên do thái tử Toghan (Thoát Hoan) chỉ huy xâm lược Đại Việt lần thứ hai. Tướng quân Nguyên Sogetu (Toa Đô) sau khi bình định Chiêm Thành ở phía Nam cũng tấn công ra Châu Hoan, Châu Ái. Hai đầu Đại Việt đều có giặc. Trong các trận phản công chiến lược của quân đội nhà Trần ở Hàm Tử, Tây Kết, Chương Dương, đội quân của Triệu Trung đã góp phần làm nên chiến thắng của quân đội nhà Trần và giải phóng Thăng Long. Quân Nguyên – Mông phải triệt thoái khỏi Đại Việt sau gần một năm chiến tranh. Sau này, không thấy sử sách chép thêm về tướng Triệu Trung và đội quân của ông. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, họ đã định cư ở Đại Việt và được Việt hóa.

- Lưu Vĩnh Phúc. Năm 1864, Nhà Thanh với sự trợ giúp của quân đội Anh, Mỹ và Pháp đã dẹp tan khởi nghĩa “Thái bình thiên quốc”. Triều đình nhà Thanh đã “bán đất cầu an”. Các thế lực đế quốc phương Tây bắt đầu xâu xé Trung Quốc. Một viên tướng trong quân đội Thái Bình Thiên Quốc là Lưu Vĩnh Phúc dẫn theo 200 lính Trung Quốc chạy sang Đại Nam (quốc hiệu Việt Nam đời Minh Mạng). Triều đình nhà Nguyễn thu nạp viên tướng này, cho phép tuyển binh ở Việt Nam, lập nên đội quân Cờ Đen có quân số khoảng 600 người. Năm 1869, quân nhà Nguyễn phối hợp với quân Cờ Đen đánh bại quân Cờ Vàng (cũng vốn là di duệ của Thái Bình Thiên Quốc) xâm nhập biên giới Việt Nam ở Lào Cai và Hà Giang. Ngày 19-11-1873, đại úy hải quân Pháp Francis Garnier cầm đầu 171 quân Pháp và hơn 150 quân đánh thuê người Vân Nam tấn công Thành Hà Nội lần thứ nhất. Hà Nội thất thủ, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị thương nặng mà chết. Ngày 18-12-1873, Lưu Vĩnh Phúc dẫn quân Cờ Đen kéo về lập trại ở Phủ Hoài Đức. Ngày 21-12, Francis Garnier dẫn quân Pháp ra cửa Tây thành nghênh chiến, bị quân nhà Nguyễn và quân Cờ Đen mai phục tiêu diệt ở Cầu Giấy. Francis Garnier bị giết. Quân Pháp phải bỏ thành Hà Nội theo đường thủy rút vào phía Nam. Sau chiến thắng này, Lưu Vĩnh Phúc được thăng lên làm Phó Lãnh binh dưới trướng Hoàng Tá Viêm (có sách chép là Hoàng Kế Viêm). Ngày 23-4-1882, Đại tá hải quân Pháp Henri Rivière cầm đầu 480 lính thủy đánh bộ tấn công thành Hà Nội lần thứ hai. Thành Hà Nội thất thủ chỉ sau vài giờ giao chiến. Tổng đốc Hoàng Diệu thắt cổ tự tử. Henri Rivière thừa thắng đem quân đánh rộng ra đồng bằng Bắc Bộ, chiếm thành Nam Định và cảng Hòn Gai. Ngày 10-5, Lưu Vĩnh Phúc lại dẫn quân Cờ Đen về đóng ở Phủ Hoài Đức và gửi tối hậu thư thách Henri Rivière giao chiến. Ngày 19-5-1882, Henri Rivière dẫn 500 quân tấn công Phủ Hoài Đức. Quân Cờ Đen và quân nhà Nguyễn lại mai phục tại Cầu Giấy, có trận địa pháo yểm hộ tại Hạ Yên Quyết. Sau ba giờ chiến đấu, quân Cờ Đen và quân Nhà Nguyễn làm chủ trận địa, giết chết Henri Rivière và hơn 50 lính Pháp, 76 tên khác bị thương. Quân Pháp phải rút vào cố thủ trong thành Hà Nội. Sau trận này, Lưu Vĩnh Phúc trực tiếp chỉ huy phòng thủ trong trận Pháp đánh thành Sơn Tây, tham gia phòng thủ thành Hưng Hóa, giao chiến với quân Pháp ở Lạng Sơn và bao vây 1 tiểu đoàn quân Pháp ở Tuyên Quang. Có thể nói cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ nhất của người Việt Nam đã làm cho Lưu Vĩnh Phúc từ thân phận một tội phạm bị nhà Thanh truy nã trở thành một công thần trong cuộc chiến chống các thế lực thực dân của Việt Nam và Trung Quốc cuối thế kỷ 19.

- Chiến thắng Thập Vạn Đại Sơn. Tháng 4 năm 1949, Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) vượt sông Trường Giang Nam hạ, liên tiếp đánh bại quân Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch, đánh chiếm Nam Kinh. Theo đề nghị của đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc và Tư lệnh Biên khu Việt - Quế (Quảng Đông - Quảng Tây), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam phái một lực lượng vũ trang sang giúp Trung Quốc chiến đấu để “xây dựng một khu giải phóng ở vùng Ung–Long – Khâm liền với biên giới Đông Bắc ta, thông ra bể, tạo điều kiện khuếch trương lực lượng, đón Đại quân Nam Hạ” (Trích mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, ngày 23-4-1949). Chiến dịch “Thập Vạn Đại Sơn” kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1949. Lực lượng của Giải phóng quân Trung Quốc gồm 3 tiểu đoàn địa phương, do đồng chí Trần Minh Giang (Chen Mingjiang) chỉ huy. Lực lượng Việt Nam tham gia chiến dịch gồm một số tiểu đoàn thuộc 3 trung đoàn 28, 174, 95, do đồng chí Lê Quảng Ba chỉ huy. Lực lượng Quốc dân đảng có 5 trung đoàn. Trên hướng Long Châu, bộ đội Việt Nam đánh chiếm Bằng Tường, Thuỷ Khẩu (ngày 12-6), Hạ Đồng (ngày 13-6). Ngày 18-6, Bộ đội Việt Nam đã diệt 1 tiểu đoàn viện binh Quốc dân Đảng từ Long Châu xuống và tiến đánh Ninh Minh. Trên hướng Khâm Châu, trong thời gian từ ngày 3 đến ngày 9-7, liên quân Trung-Việt đánh thị trấn Trúc Sơn (Zhushan) nằm trên đường từ Đông Hưng đến Phòng Thành nhưng không thành công. Ngày 25-7, liên quân Việt - Trung chuyển sang tấn công quân Quốc dân Đảng tại Voòng Chúc, Mào Lênh, tiến sát Phòng Thành. Quân Quốc dân đảng phải rút khỏi các đồn bốt nhỏ, tập trung về bào vệ các thị trấn Long Châu, Nà Lương, Phòng Thành, Đông Hưng. Chiến dịch kết thúc vào tháng 10 khi cánh quân từ phía bắc của Quân Giải phóng Trung Quốc đánh chiếm Nam Ninh. Tại Biên khu Việt - Quế, liên quân Trung - Việt đã chiếm được 10 trên 12 vị trí thuộc 3 huyện Long Châu, Khâm Châu, Phòng Thành, mở rộng vùng giải phóng, tạo điều kiện thuận lợi cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Để ghi công và tưởng nhớ các chiến binh đã tử trận trong chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, tại thị trấn Đông Hưng (Trung Quốc) có một đài liệt sĩ trên khắc song song hai hàng chữ Việt – Hán: "Đài kỷ niệm liệt sĩ cách mạng nhân dân Việt – Trung". Trên bệ có khắc một bia bằng tiếng Việt "Nhân dân Việt Nam đời đời nhớ ơn các chiến sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và tình hữu nghị giữa các dân tộc. 1956, Đảng Lao động và Mặt trận Tổ quốc, Ủy ban hành chính tỉnh Hải Ninh". Hài cốt của các tử sĩ Việt Nam và Trung Quốc được quy tập và chôn cất dưới chân đài. Trong chiến dịch, tại Thủy Khẩu (thị trấn cửa khẩu thuộc huyện Long Châu, Trung Quốc, đối diện cửa khẩu Tà Lùng, Cao Bằng, Việt Nam) diễn ra trận đánh kéo dài 2 ngày đêm của liên quân Trung - Việt chống lại 3 trung đoàn quân Quốc dân Đảng. Trong số những người tử trận có Chủ tịch huyện Long Tân Ngu Khắc Hàn và 22 chiến sĩ Việt Nam. Để tưởng nhớ liệt sĩ của hai nước, Chính phủ Trung Quốc cho quy tập các hài cốt đã an táng tại Khiếu Lâm, La Hồi và Hạ Đồng về Thủy Khẩu, lấy tên là “Nghĩa trang Liệt sĩ Trung Việt tại Thủy Khẩu Long Châu” (龙州水口中越烈士陵园 - Long Châu Thủy Khẩu Trung Việt Liệt Sĩ Lăng Viên). Đây là một trong các địa điểm du lịch của Long Châu.
2- Vì sao nhiều dân tộc bên rìa Trung Quốc đã diệt vong hoặc bị Trung Quốc đồng hóa ?
Hãy thử nhìn lại những dân tộc đã mất đất vào tay Trung Quốc hoặc thậm chí là diệt vong, bị Trung Quốc đồng hóa trong lịch sử:
- Bách Việt: Thời Nhà Tần, Trung Quốc mới chỉ chiếm được một số điểm lẻ tẻ ở phía Nam sông Dương Tử. Có đến 100 tộc người Việt từng tồn tại ở phía Nam sông Dương Tử: Mân Việt, Đông Việt, Nam Việt, Hồ Việt, Điền Việt, Dương Việt, Cán Việt, Sơn Việt, Ư Việt, Âu Việt, Lạc Việt, Câu Ngô, Dạ Lang .v.v... Thế nhưng đến nay, tất cả đều bị diệt vong. Duy nhất Lạc Việt còn tồn tại và đến nay là Việt Nam. Tại sao vậy ?

- Thổ Phồn (hay Thổ Phiên hoặc Thổ Phiền), một quốc gia Phật giáo từng thống trị Tây Tạng, từng cạnh tranh với Nhà Đường của Trung Quốc. Thổ Phồn khống chế gần như toàn bộ con đường tơ lụa suốt từ thế kỷ VI đến thế kỷ IX. Đến năm 877 diệt vong và bị sáp nhập vào Trung Quốc. Tại sao vậy ?

- Người Nữ Chân: Từng có triều đại nhà Kim hùng mạnh, thôn tính nhà Liêu, từng đánh bại nhà Tống nhiều lần, thống trị Mãn Châu, từng chịu ách đô hộ của Mông Cổ, từng là nơi phát tích của nhà Thanh. Cuối cùng, bị Hán hóa. Tại sao vậy ?

- Người Tây Khương: Cư trú ở địa bàn miền Tây tỉnh Tứ Xuyên ngày nay, từng bành trướng lãnh thổ ra khắp vùng, uy hiếp nhà Hán. Nhưng cuối cùng vẫn trở thành một tộc người thiểu số và bị sáp nhập vào Trung Quốc. Tại sao vậy ?

- Nhà nước Hung Nô (thường bị nhầm với đế quốc Mông Cổ) từng là một nhà nước hùng mạnh của người Mông Cổ từ thế kỷ III đến thế kỷ IV. Chỉ sau 1 thế kỷ, bị người Hán vừa chia rẽ vừa đồng hóa, bị chia cắt thành hai phần: Nam Hung Nô và Bắc Hung Nô. Năm 431, nhà nước Hung Nô sụp đổ, Nam Hung Nô bị Hán hóa, bây giờ là Khu tự trị Nội Mông. Tại sao vậy ?

- Người Duy Ngô Nhĩ (còn gọi là người Hồi hay Hồi Hột) từng có một Vương quốc Hồi Cốt (Hãn quốc Uyghur) hùng mạng vào thế kỷ thứ VIII, chiếm cứ toàn bộ Mông Cổ và phía Bắc Trung Quốc, uy hiếp nhà Đường. Nhưng chỉ 104 năm sau, đã bị người Hán dùng kế ly gián đánh bại. Hãn Quốc Uyghur diệt vong. Tại sao vậy ?

- Cao Câu Ly (Koguryŏ), vương quốc hùng mạnh nhất trên bán đảo Triều Tiên từ năm 37 TCN và đến năm 668 SCN. Vào thời cực thịnh năm 476, sau nhiều cuộc chinh phạt, lãnh thổ Cao Câu Ly mở rộng ra Đông Mãn Châu và Bắc Nhiệt Hà, Bán đảo Liêu Đông, Bán đảo Sơn Đông. Cuối thể kỷ VII, nhà Đường liên minh với hai vương quốc ở phía Nam bán đảo Triều Tiên là Bách Tế (Baekje) và Tân La (Silla) đánh bại Cao Câu Ly. Mãn Châu rơi vào tay Trung Quốc. Đế quốc Cao Câu Ly sụp đổ và bị Nhà Đường thôn tính. Đến năm 918, nhà nước Cao Ly mới phục hồi và trở thành nhà nước Triều Tiên (Triều đại Chosun) nhưng toàn bộ phần đất phía Bắc sông Áp Lục đã mất về tay Trung Quốc. Tại sao vậy ?

- Đế quốc Mông Cổ: Khét tiếng toàn cầu với hình ảnh”vó ngựa Nguyên – Mông đi đến đâu, cỏ không mọc được đến đó”. Mông Cổ từng xâm chiếm toàn bộ Trung Quốc, gần như toàn bộ Châu Á, Bắc Tiểu lục địa Ấn Độ và phần phía Đông Châu Âu. Từng thảm bại ba lần tại Việt Nam. Cuối cùng, vẫn bị Trung Quốc Hán hóa gần hết và co lại thành nước Mông Cổ ngày nay trên một vùng đất khô cằn. Có thể nói, chính cuộc xâm lăng của Đế quốc Mông Cổ đã giúp người Hán có được định hình được lãnh thổ Trung Quốc gần giống như ngày nay. Nó chứng minh một chân lý mà Ăng Ghen đã đúc kết: “Kẻ chinh phục bị nền văn hóa của dân tộc bị chinh phục chinh phục lại” Nguyên nhân thì có rất nhiều, bởi lịch sử luôn biến thiên do những cuộc tranh giành quyền lực của nhiều thế lực, nhiều tộc người. Tuy nhiên, có hai nguyên nhân cơ bản: Một là: Sở dĩ Việt Nam còn tồn tại được là vì Việt Nam không tham một tấc đất của Trung Quốc. Cái gì của Việt Nam thì Việt Nam phải giữ và giữ bằng mọi giá, kể cả vùng biển và hải đảo thuộc chủ quyền đã tuyên bố. Cái gì không thuộc về Việt Nam thì Việt Nam không màng đến. Những quốc gia kể trên sở dĩ diệt vong hoặc bị Hán hóa, bị nô dịch bởi nền văn hóa Trung Hoa là do bề dày văn hóa của họ không đủ để đối địch lại với nền văn hóa Trung Hoa, không định hình được bản sắc văn hóa của riêng mình một cách vững chắc (trường hợp Mông Cổ), hoặc tham lam những thứ không phải của mình. Mặt khác, chính bản thân người Trung Quốc cũng từng nhiều lần phải trả giá khi tham lam những thứ không phải của mình mà Việt Nam là một ví dụ điển hình. Hai là: Những dân tộc đã mất một phần lãnh thổ, dân cư hay bị diệt vong bởi tay Trung Quốc đều là những dân tộc mất đoàn kết. Trong lịch sử của mình, người Việt Nam không ít lần bị chia rẽ, mất đoàn kết nên bị Trung Quốc hoặc cường quốc khác đô hộ. Người Việt thấu hiểu bài học đoàn kết dân tộc hơn ai hết. Về hình thức chính trị, sự đoàn kết dân tộc của người Việt tập trung xung quanh chính quyền trung ương, đó là hạt nhân thứ nhất. Nhưng người Việt còn có hạt nhân thứ hai cũng tạo nên sự đoàn kết không kém phần rắn chắc. Đó là mô hình xã hội “cộng đồng làng” với nền “dân chủ bình đẳng làng xã”.

3- “Cộng đồng làng”, “pháo đài phòng thủ” bất khả chiến bại của dân tộc Việt Nam.
Nhiều nhà nghiên cứu sử học, xã hội học Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Anh và nhiều nước phương Tây đã đặt câu hỏi rằng: Tại sao trong suốt 1.000 năm Bắc thuộc, người Việt Nam không bị Hán hóa như nhiều tộc người khác ? Tại sao trong suốt hơn 100 năm đô hộ, người Pháp vẫn không thể Âu hóa được người Việt Nam. Trong suốt nhiều chục năm, họ vẫn đi tìm lời giải đáp.

Mô hình xã hội Việt Nam từ thời cổ đại đến nay có một cấu trúc khá đặc sắc hiếm thấy xuất hiện ở các quốc gia dân tộc khác. Đó là “Cộng đồng làng nghề” (bao gồm cả nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp .v.v…). Ở Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Bắc Á, mô hình xã hội cơ sở chủ yếu dựa trên điền trang thái ấp. Mô hình này cũng tồn tại khá phổ biến ở nước Nga và nhiều nước Châu Âu. Ở Việt Nam, lịch sử cho thấy mô hình “Điền trang thái ấp” tuy được người Trung Quốc du nhập vào Việt Nam và có thời kỳ được các triều Lý, Trần sử dụng khá phổ biến nhưng nhìn chung, người Việt Nam không chấp nhận mô hình này. Điểm khác biệt rõ rệt nhất giữa mô hình “Cộng đồng làng” và mô hình “Điền trang thái ấp” chính là sự phân tầng xã hội diễn ra rất hạn chế, làm cho nó có vẻ giống với mô hình “thị tộc” và “bộ lạc” nhưng lại không phải là “thị tộc” và “bộ lạc”.

Trở lại lịch sử, người ta thấy thời Văn Lang – Âu Lạc có một từ khá quen thuộc là “chạ” (chung chạ). Dưới thời An Dương Vương, “chạ” là mô hình tổ chức xã hội cơ sở khá phổ biến xung quanh Kinh thành Cổ Loa. Cho đến nay, nhiều nơi thuộc đồng bằng và trung du Bắc Bộ vẫn còn lưu giữ được tục “kết chạ”. Xem xét mô hình “chạ”, người ta thấy nó chính là di duệ của chế độ thị tộc thời nguyên thủy trước khi tiến triển thành một mô hình xã hội lớn hơn là bộ lạc. Ở Việt Nam, thể chế bộ lạc đã ra đời nhưng thị tộc vẫn còn đó. Người ta cũng tìm thấy dấu tích của chế độ mẫu hệ thông qua các cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của Hai Bà Trưng với những đội quân mà phái nữ chiếm da số, còn hầu hết tướng lĩnh là nữ. Có nhiều cách lý giải khác nhau. Có giả thuyết rằng đó là do người Hán đã áp dụng chính sách sát phu, hiếp phụ đối với người Việt. Có giả thiết rằng đó là do sự vùng lên đòi lại nữ quyền, lập lại chế độ mẫu hệ.v.v… Nhưng trong những cách lý giải ấy, có một khả năng là chế độ thị tộc mẫu hệ vẫn còn di duệ ở Việt Nam cho đến đầu công nguyên.

Có một điều chắc chắn là tổ chức xã hội kiểu “làng” ở Việt Nam là một kiểu thị tộc thoái hóa. Thị tộc ở Việt Nam không biến mất hẳn như ở hầu hết các tộc người khác mà nó chỉ tích hợp vào nó những yếu tố hiện đại hơn và dần chuyển hóa thành làng. Trong đó, chế độ phụ hệ được du nhập từ Trung Quốc dần dần thay thế cho chế độ mẫu hệ. Một số yếu tố hiện đại về phong tục, tập quán cũng được tích hợp trên cơ sở trao đổi văn hóa giữa các làng với nhau, giữa làng với chính quyền trung ương. Đó là cái cách người Việt Nam tạo dựng mô hình xã hội cho mình mà không phải rập khuôn từ bất kỳ ai.

Trong suốt chiều dài hàng nghìn năm lịch sử, khi đất nước bị phong kiến phương Bắc đô hộ, chính quyền nằm trong tay ngoại bang nhưng làng thì vẫn là của người Việt Nam. Ở đây có luật lệ riêng (hương ước), có đội quân vũ trang riêng (tuần đinh), có cơ cấu tổ chức quyền lực riêng (việc làng), có bộ máy điều hành riêng (lý trưởng và các chức dịch), có tín ngưỡng riêng (thành hoàng làng), có cơ sở sản xuất (ruộng làng), có công quỹ tài chính riêng (khoán lệ), có hoạt động xã hội cộng đồng riêng (hội làng), có cơ sở thờ tự, hoạt động chính trị, văn hóa xã hội riêng (đình làng), có cương vực biên giới riêng (lũy tre làng), có thị trường riêng (chợ làng). Trong tâm thức người Việt cổ và cho đến tận ngày nay, có nhiều cơ sở vật chất công cộng vẫn được gắn liền với làng, xóm: đường làng ngõ xóm, giếng làng, đình làng, ao làng, trống làng, lũy tre làng .v.v…

Làng Việt có tổ chức xã hội rất khác với nhiều nước. Nếu như ở Trung Quốc, Nga, Châu Âu và nhiều nơi khác, các quan lại, chức sắc của chính quyền trung ương khi nghỉ hưu thường rất được trọng vọng và có địa vị xã hội cao trong cộng đồng dân cư thì ở Việt Nam, quan lại, chức sắc bỏ mũ từ quan về làng cũng chỉ như dân thường. Có chăng là được các chức dịch trong làng tôn trọng, được ngồi chiếu trên trong việc làng và được tham vấn ý kiến để hành xử việc trong làng sao cho “phải đạo”. Các chức dịch của làng không phải là công chức chuyên nghiệp và không hưởng lương. Họ được dân làng bầu ra. Họ vẫn phải lao động để có thu nhập và được hưởng một khoản phụ thu từ “ruộng làng” chia theo chế độ “tỉnh điền”. Một thửa ruộng của một hộ chia làm 9 phần, chủ hộ hưởng 8 phần, phần còn lại nộp cho làng làm quỹ.

Hệ thống cai trị của phong kiến Trung Quốc suốt 1.000 năm cũng như thực dân Pháp suốt 100 năm cũng không thể xóa được làng với tư cách là một thiết chế xã hội cơ sở. Một đế quốc thực dân tư bản phát triển hiện đại như Pháp vẫn phải sử dụng mô hình thiết chế làng, tổng, huyện, phủ, tỉnh, kỳ trong cơ cấu bố trí hệ thống chính trị thuộc địa ở Việt Nam, trong đó, làng vẫn là cơ sở. Thời Pháp thuộc, mặc dù mất đi hầu hết vị trí độc lập về chính trị và một số yếu tố khác nhưng về văn hóa nói chung, Làng Việt vẫn là Làng Việt. Điều đó chứng tỏ văn hóa là cái còn tồn tại rất lâu sau khi tất cả đã mất đi.

Ngay cả chính quyền phong kiến Việt Nam độc lập trong suốt 1.000 năm từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX cũng vẫn phải thừa nhận một cách không chính thức tính “tự trị tương đối” của làng. “Phép vua” thì vẫn phải thi hành như “lệ làng” thì không thể bỏ. Điều cần thiết là đạt được sự hài hòa giữa “luật” và “lệ” để “vẹn cả đôi đường”. Chỉ trong những trường hợp cực chẳng đã, “làng” mới nổi dậy chống lại “triều đình”. Còn trong phần lớn thời gian lịch sử của dân tộc Việt, “làng” tồn tại cùng “nước” trong một thể chế chính trị thống nhất có tính biện chứng. Nó thống nhất đến mức Phan Bội Châu đã nhận định: “Làng là cái nước nhỏ, nước là cái làng to”.

Chính nhờ sự khép kín tương đối trong mô hình tổ chức xã hội cơ sở mà Làng Việt vẫn có thể tồn tại độc lập tương đối với chính quyền trung ương, bất kể là ngoại bang hay nội địa. Sự tồn tại tương đối độc lập ấy mang theo nền văn hóa Việt mà căn bản là “văn hóa làng” đi xuyên qua hai thiên niên kỷ, làm cho văn hóa Việt tồn tại đến tận ngày nay với những bản sắc vốn có và cả những bản sắc du nhập được Việt hóa. Cương vực của làng, cái lũy tre ấy vẫn tồn tại từ bao đời nay và trở thành nỗi khiếp đảm của quân xâm lược đến từ bất kỳ đâu.

Tuy nhiên, chính tính chất khép kín tương đối ấy của Làng đã tạo nên một sự thách thức không nhỏ trong quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tạo ra sức ỳ và tính bảo thủ, cố hữu cản trở con đường phát triển của người Việt. Ngược lại, “Văn hóa làng Việt” cũng đứng trước những thách thức, những nguy cơ mất đi những nét tốt đẹp truyền thống của mình, bị mặt trái của cơ chế thị trường và văn hóa ngoại lai làm cho méo mó, biến dạng, trở thành có hại.

Và một câu hỏi tất yếu được đặt ra: Làm sao để bảo tồn những di sản văn hóa tốt đẹp của “Cộng đồng làng” và triệt tiêu những ảnh hưởng tiêu cực của nó trong quá trình phái triển ? Câu hỏi này cho đến nay vẫn chưa có những kiến giải thỏa đáng.

Văn hóa Việt Nam chính là văn hóa làng xã, gia tộc của ta khác với dòng tộc của Trung Quốc. Ông cha ta đã chọn lọc sáng tạo nên không bị Trung Quốc đồng hóa được.



Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019

LIỆT SĨ, ANH HÙNG LLVTND, THIẾU TƯỚNG KIM TUẤN

Thiếu tướng Kim Tuấn có tên thật là Nguyễn Công Tiến, sinh ngày 26/10/1926 tại xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, Hà Nội và là vị tướng duy nhất và cao cấp nhất của quân đội Việt Nam hy sinh trong chiến đấu, ở chiến trường Campuchia giúp nước bạn thoát họa diệt chủng.
Nguyễn Công Tiến là một thanh niên giàu lòng yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng, tham gia phong trào Việt Minh khi còn là học sinh (năm 1945), đến năm 1946 thì nhập ngũ vào Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, khóa I (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1), từ đó ông mang tên Kim Tuấn. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông liên tục chiến đấu ở khu vực đồng bằng Liên khu 3.
Ảnh Thiếu tướng Kim Tuấn với Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, ông giữ nhiều chức vụ từ trung đội trưởng, đại đội trưởng, … và đến năm 1975, ông giữ chức tư lệnh sư đoàn 320, tư lệnh phó của ông lúc này là đại tá Nguyễn Quốc Thước sau này là trung tướng Nguyễn Quốc Thước.
Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ông chiến đấu trên nhiều mặt trận ở miền Nam. Được rèn luyện, trưởng thành, kinh qua các chức vụ chỉ huy, tướng Kim Tuấn luôn nêu cao tinh thần nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh, chỉ thị, ý chí tiến công, tác phong xông xáo, tỉ mỉ, cụ thể và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Tên tuổi của ông gắn liền với những thời điểm quyết định nhất, những chiến dịch quyết định nhất của Sư đoàn 320 như chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, chiến dịch Xuân hè 1972, đặc biệt là chiến dịch Tây Nguyên tháng 3 năm 1975.

Cuối năm 1978, ông nắm chức tư lệnh Quân Đoàn 3 và là 1 trong 3 mũi nhọn đánh sang Campuchia nhằm tiêu diệt chế độ diệt chủng Pol Pot. Tại mặt trận này, các đơn vị của ông đã tiêu diệt nhiều đơn vị Khmer đỏ và truy kích đến tận khu vực Battambang giáp Thái Lan.

Ngày 16/3/1979, ông đích thân đi thị sát trận địa. Đoàn xe bao gồm 1 chiếc xe thiết giáp M113 đi đầu, tiếp theo là 1 số xe Jeep, Uoat, .. và 1 chiếc M113 đi cuối. Khi đến khu vực núi Thơm thuộc Sisophon thì bị quân Khmer đỏ phục kích. Theo 1 số tài liệu thì xe của ông bị trúng đạn của súng chống tăng B40. Nhưng 1 số người kể lại thì xe bị trúng đạn súng phóng lựu M79. Điều này có vẻ hợp lý hơn vì khi đó, ông vẫn còn sống và được đưa lên xe M113 rút về, sau đó trực thăng cấp cứu đã đưa ngay ông về sân bay Pochentong, sau đó bay tiếp về sân bay Tân Sơn Nhất. Tuy nhiên, ông đã không qua khỏi.

Trung tướng Khiếu Anh Lân khi đó là phụ tá ông nghẹn ngào, xúc động nhớ lại : “Trên chiếc trực thăng UH, anh Tuấn tỉnh lại. Mình đã mừng, anh choàng tay ôm mình, giọng thều thào: Anh em mình có ai việc gì không? Mình giấu biệt chuyện cậu Hoa, cậu Quân hy sinh và trả lời: Không ai việc gì đâu, anh cứ yên tâm điều trị”. Rồi ông nói trong cơn thở gấp: “Lần này, có về Hà Nội gắng rẽ qua chỗ bà ấy nhà mình. Nói với bà ấy dạy dỗ các con thành người, xin lỗi bà ấy và các cháu hộ mình. Cho mình… vĩnh… biệt”.

Khi nhiệm vụ tại Campuchia kết thúc, đại tướng Văn Tiến Dũng đã đánh giá về Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) dưới quyền lãnh đạo của thiếu tướng Kim Tuấn như sau: “Binh đoàn Tây Nguyên đi đến đâu được bạn tin dân mến, kẻ thù khiếp sợ và ta thì trưởng thành”, và “hoàn thành một nhiệm vụ không đơn giản nhưng rất vẻ vang”.

Thiếu tướng Kim Tuấn được đánh giá là 1 tướng trẻ, tài năng, nhiệt huyết và mưu lược. Nếu ông còn sống, chắc chắn sẽ lập thêm nhiều chiến công trong các cuộc chiến biên giới phía Bắc sau này. Với những thành tích trong công tác, ông đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng Nhì, 3 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba.

Ngày 20/12/1979, Thiếu tướng, Liệt sĩ Nguyễn Kim Tuấn được Chủ tịch nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương Quân công hạng Nhất.

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

ANH HÙNG, ĐẠI TÁ TÌNH BÁO ĐINH THỊ VÂN

Một người phụ nữ mảnh khảnh, răng đen, ăn trầu, quanh năm mặc áo bà ba, không qua một lớp đào tạo nào về nghiệp vụ tình báo nhưng bà đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Đó chính là nữ tình báo, Anh hùng, Đại tá Đinh Thị Vân - một tấm gương đáng để các thế hệ hôm nay tự hào, học tập và noi theo.
Bà cùng những tên tuổi đã trở thành huyền thoại như: Thiếu tướng Vũ Xuân Nhã, Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn, Đại tá Phạm Ngọc Thảo, Đại tá Lê Hữu Thúy… góp phần làm nên chiến thắng mùa xuân 30/4/1975, giành lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc.

Căn nhà nhỏ trên gác 2 ở số 8, Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội là nơi nữ tình báo Đinh Thị Vân sống những năm cuối đời. Sau đó được giao lại cho người cháu Đinh Văn Đạt, năm nay đã ngoài 60 tuổi, làm nơi tưởng niệm nữ tình báo Anh hùng.

Hy sinh hạnh phúc riêng cưới vợ cho chồng!


Đại tá Đinh Thị Vân (SN 1916), sinh ra ở làng Đông An, xã Xuân Thành, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Tên thật là Đinh Thị Mậu, xuất thân trong một gia đình nho học, có truyền thống yêu nước. Ngay từ nhỏ bà đã ý thức được tinh thần đấu tranh chống thực dân đế quốc vì độc lập dân tộc. Được các anh trai là Đinh Lai Hạp và Đinh Thúc Dự, những đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương ngày ấy giác ngộ, động viên tham gia hoạt động cách mạng, làm giao thông liên lạc, cất giữ tài liệu bí mật của Đảng và tham gia tổ chức nhóm “ái hữu tương tế”, nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ cách mạng.

Tháng 6/1954, Trung ương quyết định điều động Đinh Thị Vân lên công tác tại Cục Nghiên cứu Tổng tham mưu - Bộ Quốc Phòng. Bà được giao nhiệm vụ về Hà Nội hoạt động bí mật trong lòng địch, gây dựng cơ sở, tìm hiểu những ý đồ chiến lược của địch. Tuy nhiên, do hoàn cảnh gia đình mẹ già yếu, chồng bị đau ốm nhưng vì nhiệm vụ đặc biệt lại phải xa quê hương, xa những người thân yêu nhất để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và quân đội đã tin tưởng giao phó. Mặc dù nghĩa tình sâu nặng nhưng bà đã chủ động đề nghị với lãnh đạo đồng thời cưới vợ cho chồng chăm sóc, lo toan việc nhà tạo điều kiện để mình hoàn thành nhiệm vụ.

Chỉ một thời gian ngắn bà đã xây dựng được một số cơ sở tin cậy ở nội thành Hà Nội. Chấp hành chỉ thị, bà Vân tìm cách lọt qua mạng lưới kiểm soát dày đặc của địch trên đường số 5 để xuống Hải Phòng. Nhờ vào các mối quan hệ và công tác vận động, giác ngộ quần chúng chị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cung cấp nhiều tin tức quan trọng để cấp trên chỉ đạo thắng lợi và giành thế chủ động trong thời gian “300 ngày tập kết”.

Hiệp định Geneve được ký kết, đất nước bị chia cắt thành hai miền, lấy vĩ tuyến 17 là ranh giới tạm thời. Tháng 10/1954, trước ngày quân ta kéo về giải phóng Thủ đô, bà nhận lệnh bí mật vào Nam hoạt động. Để tạo vỏ bọc hợp pháp cho việc di cư vào Nam và phù hợp với hoạt động sau này, bà đã đóng vai “người đi buôn vào Nam kiếm sống”. Từ đó, ngày ngày “dì Sáu di cư” trĩu nặng trên đôi vai gầy gánh guốc đi bán rong khắp ngõ phố Sài Gòn. Từ chợ Bàn Cờ, chợ An Đông, đến chợ ông Tạ, chợ Cầu Bông, từ ngã tư Hàng Xanh, vòng lên chợ Cầu Muối…

Để hỗ trợ cho hoạt động của bà, cấp trên quyết định thông báo: “Đinh Thị Vân đã phản Đảng, bỏ nhiệm vụ chạy trốn vào Nam. Tuyên án tử hình vắng mặt”. Tin dữ lan truyền quá nhanh, anh em đồng chí, họ hàng, quê hương… đều bàng hoàng, sửng sốt. Thế nhưng đã đánh hỏa mù vào cơ quan mật vụ của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bà hoạt động bí mật.


Người nữ anh hùng.

Do sơ suất của một cơ sở trong lưới, bà Vân đã bị địch nghi ngờ và bắt giam. Cho dù chúng dùng mọi thủ đoạn tra tấn rất dã man, nhưng không moi được bất cứ tin tức gì ở bà, chúng đưa bà đi biệt giam ở Vân Đồn, trại Lê Văn Duyệt, Sở Thú. Sau năm năm tù đày qua các nhà lao, nếm đủ mọi cực hình tra tấn dã man về thể xác, uy hiếp khủng bố về tinh thần nhưng với dũng khí phi thường của người Cộng sản, bà Đinh Thị Vân đã vượt qua tất cả, tuyệt đối trung thành với Đảng, với cách mạng, bảo vệ trọn vẹn mạng lưới tình báo do bà phụ trách.

Phát huy đà thắng lợi của hai mùa khô, cục diện trên toàn miền Nam thay đổi có lợi cho ta. Trung ương quyết định: “Chuyển cuộc đấu tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới - Thời kỳ giành thắng lợi quyết định”. Chủ trương của ta được thực hiện bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mà tình báo gọi là kế hoạch “Vụ Mùa”. Bà trực tiếp hướng dẫn việc chuẩn bị “Vụ mùa’ ở Sài Gòn, chuẩn bị giao liên dẫn đường cho lực lượng ở bên ngoài vào. Tất cả tin tức đều đã được mạng lưới của bà kịp thời báo cáo ra Bộ chỉ huy chiến dịch kèm theo những ý kiến phân tích xác đáng. Mọi kế hoạch đều được tuyệt đối giữ bí mật tới mức khi “Vụ mùa” đã triển khai mà địch vẫn không hề hay biết.

Địch trở tay không kịp, hoang mang lo sợ, máy bay bay rối loạn trên bầu trời Sài Gòn, xe nha binh chạy đâm bừa vào nhau nhốn nháo. Trong thời điểm ấy, bà Đinh Thị Vân vẫn bình tĩnh chỉ huy các chiến sỹ trong lưới của mình, âm thầm làm nhiệm vụ. Vì vậy, sau những ngày vang dội của cuộc tổng tiên công Mậu Thân, Mỹ Ngụy rất hoang mang lo sợ nên càng lùng sục, bắt bớ và thẳng tay đàn áp dã man, nhưng lưới tình báo do bà Vân phụ trách hóa trang giấu kín mình trong từng vỏ bọc khác nhau và hàng ngày vẫn công khai hoạt động giữa vòng vây của cảnh sát và mật vụ Sài Gòn.

Tháng 3/1969, do yêu cầu công tác và tình hình sức khỏe của bà Vân bị giảm sút sau những năm tháng tù đày bị địch tra tấn dã man và hoạt động vất vả, căng thẳng trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt, nên cấp trên đã quyết định điều bà ra Hà Nội để điều trị và phân công làm công tác huấn luyện.

Với công lao cống hiến cho Đảng và Nhà nước cũng như quân đội, ngày 25/8/1970, bà Đinh Thị Vân được nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Sau gần trọn một đời cống hiến cho cách mạng, bà về nghỉ hưu ở căn gác nhỏ trong ngôi nhà số 8 phố Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Sống thanh bạch, giản dị, khiêm tốn và thật sự trong sạch trong sự yêu mến và ngưỡng mộ của bạn bè, mọi người nơi bà cư trú. Bà Đinh Thị Vân mất ngày 11/12/1995 tại Hà Nội.

Trong lịch sử tình báo quân sự Việt Nam, có một nữ điệp viên chiến lược đã hy sinh hạnh phúc riêng, lấy vợ cho chồng để rồi suốt mấy chục năm âm thầm làm nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm trong lòng địch, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quan trọng với vai một người lao động bình thường, răng đen, ăn trầu, quanh năm mặc áo bà ba… Vì những cống hiến xuất sắc cho Tổ quốc, bà Đinh Thị Vân xứng đáng trở thành huyền thoại trong ngành tình báo Việt Nam.

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2018

LIỆT SĨ, ANH HÙNG LLVTND NGUYỄN VIẾT XUÂN

Nguyễn Viết Xuân sinh năm 1934, dân tộc Kinh, quê xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc-một vùng quê có truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm. 
Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, lên 7 tuổi, Nguyễn Viết Xuân đã phải sống một cuộc đời đi ở kéo dài suốt 10 năm. Khi vừa tròn 18 tuổi, anh đã dũng cảm vượt vùng tạm chiến ra vùng tự do, xin đi bộ đội. Nhập ngũ tháng 11 năm 1952, lúc đầu, anh làm chiến sỹ trinh sát, rồi tiểu đội trưởng trinh sát, trung đội trưởng pháo cao xạ, sau làm chính trị viên đại đội. Bất kỳ ở cương vị nào, Nguyễn Viết Xuân cũng luôn nêu cao quyết tâm chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, gương mẫu, xung phong đi đầu, cùng đồng đội hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, anh đã cùng đồng đội dũng cảm chiến đấu, không ngại hy sinh, gian khổ, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch, giải phóng miền Bắc, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta, đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng miền Bắc theo con đường xã hội chủ nghĩa và tiến hành cách mạng giải phóng miền Nam. 

Hoà bình lập lại ở miền Bắc, đơn vị của Anh làm nhiệm vụ huấn luyện và xây dựng. Bản thân, tuy sức yếu hơn so với đồng đội, song công việc nào được giao, dù nặng nhọc, vất vả, đồng chí vẫn phấn đấu hoàn thành và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. 

Năm 1964 bị thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam, Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc nước ta, Nguyễn Viết Xuân với vai trò là một bí thư chi bộ, một chính trị viên đại đội pháo cao xạ, đã nêu tấm gương sáng ngời về tinh thần kiên quyết tiến công địch. Tiêu biểu là trận đánh địch ngày 18 tháng 11 năm 1964. Trong trận chiến đấu này, Mỹ đã huy động nhiều tốp máy bay đánh phá ác liệt vùng ChaLo thuộc miền tây tỉnh Quảng Bình. Ngay đợt đầu, 3 chiếc máy bay F.100 bất ngờ lao vào trận địa của đại đội Nguyễn Viết Xuân. Loạt đạn đầu tiên của khẩu đội 3 đã đón đánh chiếc đi đầu trong tốp, bọn địch đổi hướng tấn công và tập trung oanh tạc vào Khẩu đội 3. Cả trận địa nổ súng giòn giã, đánh trả quyết liệt lũ cướp trời, một chiếc trong tốp bay của địch trúng đạn bốc cháy, nhưng một chiếc khác đã phóng một loạt tên lửa về phía khẩu đội 3. Bất chấp nguy hiểm, Nguyễn Viết Xuân lao ra khỏi công sự, đứng bên khẩu đội 3 đĩnh đạc tỏ rõ khí phách và hô lớn: “Nhằm thẳng quân thù, bắn!” 

Giữa làn bom đạn địch, tiếng hô dõng dạc của anh vang trên trận địa đã trở thành khẩu hiệu khích lệ mạnh mẽ tinh thần quyết chiến quyết thắng của toàn đơn vị và trên khắp các chiến trường đánh Mỹ. Lưới lửa của đại đội vây chặt lũ máy bay Mỹ và một chiếc nữa lại phải đền tội. Trận chiến đấu vừa tạm dứt, anh đi khắp các khẩu đội để nắm tình hình động viên quyết tâm tiếp tục chiến đấu. Máy bay địch lại ập đến, điên cuồng bắn phá trận địa của đại đội. Một lần nữa cuộc chiến đấu lại diễn ra khốc liệt tiếng máy bay của địch gầm rú trên bầu trời liên tiếp nhả các loạt bom xuống trận địa, anh bị thương nặng, gãy nát đùi bên phải. Nhưng Nguyễn Viết Xuân vẫn thản nhiên bảo y tá cắt nốt phần thịt dính vào chân, bỏ chân đi cho đỡ vướng. Đồng chí nói: “Tôi không việc gì” và căn dặn y tá không được cho mọi người biết. Và vẫn tỉnh táo theo dõi cuộc chiến đấu, biểu dương kịp thời những chiến sĩ và khẩu đội lập công. Sau trận chiến đấu ác liệt, anh chỉ định người thay thế, phân công người chăm sóc các đồng đội bị thương, bình tĩnh bàn giao cộng việc rất tỉ mỉ, rõ ràng. Trở về tuyến sau, vết thương quá nặng, máu ra nhiều, nguyễn Viết Xuân thấy mình khó qua được, anh đã bình tĩnh trao đổi nhiệm vụ với người thay thế, dặn dò cặn kẽ việc chấp hành Nghị quyết của Chi bộ và nêu một số đề nghị về công tác phát triển Đảng, Đoàn và khen thưởng trong đơn vị. Khi hy sinh, anh là thiếu uý, chính trị viên đại đội 3, tiểu đoàn 14 pháo cao xạ, sư đoàn 325, Quân khu 4, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Tấm gương chiến đấu anh dũng quên mình vì nhiệm vụ của đồng chí được cán bộ chiến sĩ trong đơn vị rất cảm phục, cả đại đội 3 đã dấy lên một cao trào thi đua, kiên quyết chiến đấu lập công, trả thù cho người chính trị viên yêu quý của mình. 

Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Nguyễn Viết Xuân đã được nhà nước truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2018

LIỆT SĨ, ANH HÙNG LLVTND TÔ VĨNH DIỆN

Tô Vĩnh Diện (1924-1953), Liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng Vũ Trang Nhân dân, khi hy sinh, anh là Tiểu đội trưởng pháo cao xạ 37 ly thuộc Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367. Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhất. 
Tô Vĩnh Diện sinh trưởng trong một gia đình nghèo ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Lên 8 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ. Suốt 12 năm đi ở, anh phải chịu bao cảnh áp bức bất công. Năm 1946, anh tham gia dân quân ở địa phương. Năm 1949, Tô Vĩnh Diện xung phong đi bộ đội.
Tháng 5 năm 1953, quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ để chuẩn bị đánh lớn. Tô Vĩnh Diện được điều về làm tiểu đội trưởng một đơn vị pháo cao xạ. Trong quá trình hành quân cơ động trên chặng đường hơn 1000 km tới vị trí tập kết để tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, anh luôn luôn gương mẫu làm mọi việc nặng nhọc, động viên giúp đỡ đồng đội kéo pháo tới đích an toàn.
Trong lúc kéo pháo qua những chặng đường khó khăn nguy hiểm, anh xung phong lái pháo để bảo đảm an toàn cho khẩu pháo. Trong lúc kéo pháo cũng như lúc nghỉ dọc đường, Tô Vĩnh Diện luôn luôn nhắc đồng đội chuẩn bị chu đáo và tự mình đi kiểm tra tỉ mỉ đường dây kéo pháo, xem xét từng đoạn đường, từng cái dốc rồi phổ biến cho anh em để tránh những nguy hiểm bất ngờ xảy ra.
Kéo pháo vào đã gian khổ, hy sinh, kéo pháo ra càng gay go ác liệt, anh đã đi sát từng người, động viên giải thích nhiệm vụ, giúp anh em xác định quyết tâm cùng nhau khắc phục khó khăn để đảm bảo thắng lợi.
Qua 5 đêm kéo pháo ra đến dốc Chuối, đường hẹp và cong rất nguy hiểm. Tô Vĩnh Diện cùng đồng đội Ty xung phong lái pháo. Nửa chừng dây tời bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, anh vẫn bình tĩnh giữ càng, lái cho pháo thẳng đường. Nhưng một trong bốn dây kéo pháo lại bị đứt, pháo càng lao nhanh, anh Ty bị hất xuống suối. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Tô Vĩnh Diện hô đồng đội: “Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo” và anh buông tay lái xông lên phía trước, lấy thân mình chèn vào bánh pháo, nhờ đó đơn vị kịp ghìm giữ pháo dừng lại.
Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của đồng chí Tô Vĩnh Diện đã cổ vũ mạnh mẽ toàn đơn vị vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu.

Ngày 7 tháng 5 năm 1955, Tô Vĩnh Diện được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao tặng Huân chương quân công hạng nhì, Huân chương chiến công hạng nhất và được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1956.

Nguồn: trianlietsi.vn

Thứ Hai, 24 tháng 12, 2018

TẤM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI ĐỒNG BÀO THIÊN CHÚA GIÁO

Sinh thời, Bác Hồ kính yêu luôn quan tâm đến đồng bào tôn giáo, tôn trọng quyền tự do tôn giáo của các giáo dân và thực hiện đoàn kết tôn giáo. Trong tư tưởng của Người, xây dựng, củng cố và phát huy nguồn sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó đoàn kết với đồng bào thiên chúa giáo luôn là vấn đề sống còn, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng, quyết định sự tồn vong của dân tộc.

1. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian nan và thử thách, Bác Hồ đã có dịp đi nhiều nơi, tiếp xúc với nền văn hoá phương Đông và phương Tây, và trong quá trình thâm nhập đời sống thực tế, nghiên cứu các học thuyết chính trị, các giáo lý tôn giáo tại chính quê hương của nó, Người đã tiếp thu, kế thừa, đã chắt lọc những giọt tinh tuý của từng học thuyết tôn giáo. Người nhận thức rằng, Thiên chúa giáo cũng như các giáo lý tôn giáo khác đều hướng đến việc mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Vì vậy, Thiên chúa giáo bên cạnh ý nghĩa chính trị còn mang đậm yếu tố văn hoá, đạo đức. Với ý nghĩa đó, Thiên chúa giáo đã trở thành nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân lao động.
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Việt Nam - nơi có nhiều cộng đồng cư dân cùng sinh sống, nơi tín ngưỡng giữa đạo và đời đồng hành ngự trị trong đời sống tâm linh của người dân, Bác Hồ đã nhìn thấy những điểm chung của các bậc tiền nhân sáng lập Thiên chúa giáo. Người gạn lọc những tinh hoa trong kho tàng giá trị của đạo Thiên chúa những điều cần thiết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh dường như bao la, nhân ái hơn khi hoà đồng, kết hợp tâm hồn, đạo đức và cốt cách của con người Việt Nam với tư tưởng “cứu thế, độ dân, hy sinh cho tự do” của Đức Chúa GiêSu, để không chỉ giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, thực hiện sự tôn trọng tự do tôn giáo, mà còn luôn thực hiện đoàn kết với đồng bào đồng bào Thiên chúa giáo trong hành trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.
Là lãnh tụ của cách mạng, hơn ai hết Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rằng: đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết, nên muốn huy động sức mạnh của khối toàn dân đoàn kết, muốn toàn thể đồng bào cùng hiệp lực chống kẻ thù chung, thì tất yếu không thể không quan tâm đến vai trò của đồng bào Thiên chúa giáo. Ngay từ những năm lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền, Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm đến Thiên chúa giáo, đến các giáo dân và động viên họ góp sức mình vào sự nghiệp giải phóng. Vì vậy, ngay sau thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám 1945, cùng với việc tuyên bố Việt Nam độc lập, khai sinh nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã thực hiện một trong 6 nhiệm vụ cấp bách, đó là tuyên bố: “TÍN NGƯỠNG TỰ DO và Lương Giáo đoàn kết”.
Tiếp đó, tập trung thực hiện khẩu hiệu: Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì nhiều cuộc họp bàn về tôn giáo, bàn biện pháp để chống khiêu khích, bảo vệ khối đại đoàn kết giữa Lương và Giáo để giải quyết những vấn đề liên quan đến tôn giáo, đặc biệt là Thiên chúa giáo. Người từng nhấn mạnh: “Dân tộc có giải phóng thì tôn giáo mới giải phóng được. Lúc này chỉ có quốc gia, và không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi người đều là công dân của nước Việt Nam, và có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc”.
Bác Hồ, dù bộn bề công việc quốc gia đại sự vẫn không quên gửi thư chúc mừng đồng bào công giáo mỗi dịp Lễ Thiên chúa giáng sinh, đồng thời kêu gọi các giáo dân hãy vì “Tổ quốc trên hết, Dân tộc trên hết” mà ủng hộ sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trên tinh thần “thật thà tôn trọng tín ngưỡng tự do”, Người đã luôn thực hành nguyên tắc “vì đại cục” để kiên trì thực hiện đoàn kết giữa Giáo và Lương trong suốt những năm kháng chiến và kiến quốc.

2. Thực hiện sự chia rẽ khối đoàn kết của toàn dân, thực dân Pháp và các thế lực phản động luôn dùng chiêu bài kích động Cộng sản là kẻ thù không đội trời chung với tôn giáo. Không để kẻ thù chia rẽ và phá hoại sức mạnh của khối đoàn kết, đặc biệt là đoàn kết giữa đồng bào các tôn giáo, Bác Hồ không chỉ quan tâm đến vấn đề tôn gióa, mà còn mềm dẻo trong cách ứng xử với với các vị chức sắc tôn giáo, với các giáo dân. Nôen năm 1947, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở vào giai đoạn gay go, quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi lời chúc đến Giám mục Lê Hữu Từ, “kính chúc cụ mọi sự lành để phụng sự Đức Chúa và để lãnh đạo đồng bào công giáo tham gia kháng chiến, đặng tranh lại thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”, đồng thời “nhờ cụ chuyển lời tôi chúc phúc cho toàn thể đồng bào công giáo”. Người thành tâm “đề nghị toàn thể đồng bào công giáo trong kỳ lễ Nôen này cầu nguyện cho linh hồn các chiến sĩ giáo và lương đã bỏ mình vì nước và cầu nguyện cho Tổ quốc ta được thắng lợi”. Sau đó, trong bức thư gửi đồng bào công giáo toàn quốc nhân lễ Thiên chúa giáng sinh năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết rằng: “Đồng bào hãy cùng tôi cầu nguyện Chúa cho ngày thắng lợi sắp tới của dân tộc. Tôi cầu nguyện Chúa luôn luôn ban phúc lành cho đồng bào”. Đặc biệt, khi thực dân Pháp tấn công xứ đạo Bùi Chu, Phát Diệm, Nôen năm 1949, Người đã gửi thư chia sẻ những mất mát của các giáo dân vì đất Thánh bị xâm phạm, và đồng bào “đang đau khổ dưới gót sắt của giặc Pháp dã man”.
Vào những thời điểm nhạy cảm, Người đã linh hoạt trong từng quyết sách, từng bước giải quyết mâu thuẫn, giải quyết những xung đột nảy sinh giữa Lương và Giáo, giữa giáo dân và chính quyền cách mạng để củng cố và phát triển sự đoàn kết giữa Giáo và Lương. Mềm dẻo, đi sâu vào lòng người, luôn tôn trọng niềm tin của người dân vào giáo lý, Bác Hồ đã bằng tấm lòng thành, tầm nhìn xa, biện pháp linh hoạt để không chỉ giáo dục, giác ngộ tín đồ Thiên chúa giáo, mà còn thực hiện thành công chiến lược đoàn kết với đồng bào Thiên chúa giáo. Trên tinh thần đó, một mặt, Người kiên quyết với những kẻ đầu sỏ, chống đối cách mạng, trở thành kẻ thù của cách mạng, mặt khác, Người khoan dung, nhân ái với những người nhẹ dạ, cả tin, và vì thiếu hiểu biết mà bị lôi kéo, dụ dỗ vào con đường sai trái.
Xót xa, đồng cảm với những con chiên nhẹ dạ, cả tin, vì không hiểu mà bị dụ dỗ, rời miền Bắc đi theo “Chúa di cư vào Nam”, để rồi phải sống những tháng ngày khổ cực, thậm chí bị bắn, bị giết hại, dùng bút danh C.B, Bác Hồ viết và chỉ rõ những điều giả dối và tội ác của chính quyền họ Ngô trong bài báo: “Tội ác của Ngô Đình Diệm” đăng trên báo Nhân dân, ngày 29/9/1954. Nội dung bài báo như sau:
“Diệm là người công giáo cũng như xưa kia Giu-da là người công giáo. Diệm được thực dân Pháp dung túng, đã lợi dụng đạo Chúa để dụ dỗ và ép buộc một số đồng bào công giáo nhẹ dạ bỏ quê hương vào Nam.
Diệm hứa hẹn với họ: Vào Nam mỗi người sẽ được 3 mẫu ruộng, 2 con trâu, mỗi ngày được 35 đồng bạc, và được …lên Thiên đường.
Những khi lên Hà Nội, xuống Hải Phòng, thì nhiều đồng bào ấy đã lâm vào một cuộc đời lênh đênh, cực khổ. Lúc vào đến Nam lại càng vất vả. Chẳng thấy ruộng đâu, trâu đâu, mà cơm gạo hàng ngày nhiều khi cũng thiếu.
Không những thế, nội bộ bọn Diệm tranh quyền, đoạt lợi, xung đột lẫn nhau. Diệm mưu đẩy Hinh, Hinh muốn lật Diệm, chúng xúi dục những đồng bào ấy biểu tình, ủng hộ tên này, phản đối tên kia. Rồi chúng bắn xả vào đám đồng bào vô tội, làm nhiều người chết và bị thương, như đã xẩy ra trong những ngày gần đây.
Lợi dụng đạo Chúa để làm ô danh Chúa, lợi dụng đồng bào rồi giết hại đồng bào. Tội các của bọn Diệm thật là:
"Chẻ hết tre rừng không chép hết
Tát khô nước bể khó rửa xong!
Mặt khác, để khẳng định niềm tin của giáo dân vào chế độ XHCN ở miền Bắc, Người khẳng định: “Đồng bào công giáo các giới hăng hái tham gia mọi công việc xây dựng nước nhà... và con đường yêu nước mà đồng bào đang đi là hoàn toàn đúng”. Đó chính là tấm lòng của Bác Hồ với tôn giáo nói chung, với đồng bào Thiên chúa giáo nói riêng, thể hiện quan điểm đại đoàn kết - điểm cốt lõi trong hệ thống quan điểm tôn giáo của Người.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhằm ngăn chặn âm mưu của các thế lực phản động, lợi dụng tôn giáo hòng chia rẽ khối đoàn kết toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến vấn đề tôn giáo. Tấm lòng, sự quan tâm của Bác Hồ thể hiện trong nhiều bức thư, nhiều bài viết. Trong đó, Người động viên các giáo dân hãy sống tốt đời đẹp đạo, hãy “sống theo Đảng chết theo Chúa”, vì trong tư tưởng của Người, lòng yêu quê hương đất nước, yêu CNXH không đối lập, và dù là Lương hay Giáo thì mỗi người dân “con Rồng, cháu Lạc” đều có thể vừa là công dân tốt, vừa là tín đồ chân chính.

3. Từ những bức thư, từ sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Thiên chúa giáo, có thể cảm nhận được tấm lòng của Người với các giáo dân, dù họ đang sinh sống ở miền Nam hay miền Bắc, dù đã giác ngộ hay còn chưa được giác ngộ, đều chân thành và nhân ái, bao dung và thân tình. Có niềm tin mãnh liệt vào con người, tình cảm, tấm lòng của Bác Hồ với các tôn giáo nói chung, Thiên chúa giáo nói riêng dường như làm cho bao la nhân ái Hồ Chí Minh sâu sắc, đậm nét hơn. Và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng được nhân lên, mạnh hơn lên khi có sự góp sức của đồng bào Thiên chúa giáo. Nguồn sức mạnh to lớn đó đã không chỉ làm nên thành công của cuộc cách mạng tháng tám 1945, của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mà còn đưa đất nước Việt Nam XHCN ngày một phát triển và giàu mạnh.
Bác Hồ đã đi xa, nhưng tấm lòng của Người với đồng bào Thiên chúa giáo vẫn còn sâu đậm mãi. Vì dù đã đi xa, song những bức thư của Bác Hồ chúc mừng các giáo dân nhân dịp Lễ Thiên chúa Giáng sinh lúc sinh thời vẫn có ý nghĩa tinh thần to lớn đối với các con chiên của Đức Chúa. Năm 1958, khi trả lờicâu hỏi của các cử tri Hà Nội: "Tiến lên chủ nghĩa xã hội thì tôn giáo có bị hạn chế không?", Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định thái độ của những người cộng sản đối với tôn giáo: "Không. ở các nước xã hội chủ nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự do. Ở Việt Nam ta cũng vậy". Độc lập dân tộc và CNXH ở Việt Nam không chỉ là sự lựa chọn đúng, mà còn là con đường phát triển hợp quy luật thời đại. Dù là ai, nói thế nào và bằng phương cách gì, theo tôn giáo nào thì cũng vẫn thuộc về một dân tộc, vẫn không ngoài một khát khao được sống trong độc lập, tự do, hòa bình và được mưu cầu hạnh phúc.
Cùng với thời gian, tình cảm, sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Thiên chúa giáo vẫn không phai mờ. Ngày 12/6/1987, tại Hội thảo khoa học “Bác Hồ với Huế” do Thành ủy Huế tổ chức, linh mục Nguyễn Văn Ngọc đã kể lại sự quan tâm của Bác đối với đồng bào công giáo như sau: Năm 1949, khi Việt Minh bao vây thành phố Huế, linh mục Nguyễn Văn Ngọc lúc đó đảm đương việc ruộng đất của nhà chung tại giáo xứ Lương Văn có trách nhiệm cung cấp lương thực cho 600 linh mục, chúng sinh của dòng tu của thành phố Huế. Nhưng vì Huế đang bị bao vây nên không có cách nào chở gạo vào cho nhà chung. Linh mục đã gặp cán bộ Việt Minh có trách nhiệm, các đồng chí khuyên linh mục nên viết thư xin phép Bác Hồ. Linh mục đã đánh bạo viết thư gửi Bác mà không dám hy vọng nhận được thư trả lời. Nhưng một tháng sau, các đồng chí chuyển cho linh mục Ngọc một tấm thiếp có chữ ký, con dấu của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nội dung sau: Cho phép linh mục Nguyễn Văn Ngọc được chở 9000 thúng lúa lên thành phố Huế trong vòng 1 tháng để cấp cho nhà chung; Linh mục Ngọc được tự do đi lại trong tỉnh Thừa Thiên để coi sóc ruộng đất của nhà chung, tiếp tục trồng cấy, không được để ruộng đất bỏ hoang. Nhờ có “tấm giấy phép đặc biệt” ngày củ Bác Hồ, linh mục Nguyễn Văn Ngọc đã cứu nguy cho hơn 600 linh mục, giáo dân của thành phố Huế.
Bác Hồ là vị lãnh tụ cách mạng, là nhà hiền triết phương Đông, ở Người có sự kết hợp hoàn chỉnh giữa “đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của người chủ gia tộc. Tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”, và suốt đời phấn đấu hy sinh vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất, nhân dân Việt Nam và nhân loại cần lao hạnh phúc trong hòa bình.
Thực hiện đoàn kết tôn giáo bằng cách “luôn luôn coi tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng..., thực hiện đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau và trong nội bộ từng tôn giáo, đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo”, để “tập hợp đông đảo các tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước” theo những kinh nghiệm, những chỉ dẫn của Bác Hồ luôn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Ôn lại tình cảm, sự quan tâm của Bác Hồ đối với đồng bào Thiên chúa giáo trong dịp Lễ Thiên chúa giáng sinh năm nay, là thêm một lần thiết thực Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh- đạo đức nhân văn và bao dung vì hạnh phúc con người ./.

Nguồn: ditichhochiminhphuchutich.gov.vn