Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2019

SỰ THẬT SYRIA VÀ AFGHANISTAN

Hai cuộc chiến khủng khiếp, hai cuộc tàn phá man rợ, nhưng hai kết quả hoàn toàn trái ngược nhau.

Ở Syria, bây giờ có thể là mùa thu, nhưng gần như trong toàn bộ đất nước sự sống đang nảy mầm, nở rộ trở lại, mọc lên từ đống tro tàn, theo đúng nghĩa đen.

Cách Syria 2 ngàn dặm về phía đông, Afghanistan vẫn đang như một cơ thể bị đập vào những bức tường đá cổ xưa của nó, mất máu và hấp hối. Ở đó, không quan trọng là mùa nào, cuộc sống chỉ đơn giản là rất khủng khiếp với tương lai bị lưu đày vĩnh viễn.


***

1- Damascus, thủ đô cổ kính và lộng lẫy của Syria, nay là Cộng hòa Arab Syria, cuộc sống đã trở lại. Mọi người vui chơi đến tận đêm khuya, với nhiều sự kiện, âm nhạc và nhịp sống xã hội sôi động. Không phải tất cả, nhưng nụ cười đã trở lại với nhiều người. Các trạm kiểm soát đang được dỡ bỏ dần và giờ đây người ta thậm chí không phải dùng máy dò mìn trước khi vào bảo tàng, quán cà phê và các khách sạn quốc tế.

Người dân Damascus rất lạc quan, một số người ngây ngất. Họ đã chiến đấu hết mình, họ đã mất hàng trăm ngàn đàn ông, phụ nữ và trẻ em, nhưng họ đã chiến thắng! Cuối cùng họ đã chiến thắng, vượt lên tất cả các dự đoán, được hỗ trợ bởi những người bạn và đồng minh thực sự của họ. Họ tự hào về những gì họ đã đạt được, và sự thật là như vậy!

Bị làm nhục rất nhiều trong một thời gian dài, người dân Ả Rập đột nhiên đứng dậy và chứng minh cho thế giới và với chính bản thân rằng họ có thể đánh bại quân xâm lược, bất kể chúng có mạnh đến đâu. Như tôi đã viết trong một số dịp trước đây, Aleppo là “Stalingrad của Trung Đông”. Đó là một biểu tượng anh hùng. Ở đó, chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa đế quốc đã gặp thảm bại. Không có gì đáng ngạc nhiên, vì sức chịu đựng, lòng can đảm và khả năng của mình, trung tâm của tư tưởng văn hoá Arab - Syria một lần nữa trở thành quốc gia lá cờ đầu đối với những người yêu tự do trong khu vực.

Syria có nhiều bạn bè, trong đó có Trung Quốc, Iran, Cuba và Venezuela. Nhưng người quyết tâm giúp đỡ nhất trong số họ, đáng tin cậy nhất, vẫn là Nga.

Người Nga đã đứng bên đồng minh lịch sử của mình, ngay cả khi mọi thứ có vẻ tồi tệ, gần như vô vọng, ngay cả khi những kẻ khủng bố được đào tạo và cấy ghép vào Syria bởi phương Tây, Arab Saudi, Qatar và Thổ Nhĩ Kỳ, đã san phẳng toàn bộ các thành phố cổ, và hàng triệu người tị nạn chạy khỏi đất nước, qua tất cả bảy cửa ô của Damascus và từ tất cả các thành phố lớn, cũng như các thị trấn và làng mạc.

Người Nga làm việc lặng lẽ, cần mẫn và hiệu quả, không chỉ ở “hậu trường”, trên mặt trận ngoại giao, mà còn trên tiền tuyến, cung cấp hỗ trợ tác chiến không lực, làm sạch và kiểm soát toàn bộ các khu phố, giúp cung cấp thực phẩm, hậu cần, chiến lược. Người Nga đã chết ở Syria, tôi không biết con số chính xác, nhưng chắc chắn có thương vong, một số nguồn tin thậm chí cho biết là "đáng kể". Tuy nhiên, Nga không bao giờ đầu hàng, không bao giờ đập ngực than vãn bất lực. Những gì phải làm, đã được họ thực hiện, như một nghĩa vụ quốc tế cao cả, lặng lẽ, tự hào, rất can đảm và quyết tâm.

Người dân Syria biết tất cả những điều này, họ hiểu, và họ biết ơn đối với cả hai quốc gia, mọi sáo ngữ biết ơn là không cần thiết, ít nhất là bây giờ. Tình huynh đệ sâu sắc của họ là không thể chia cắt. Họ đã cùng nhau chiến đấu chống lại kẻ thù hắc ám, khủng bố và chủ nghĩa thực dân mới, và họ đã chiến thắng.

Khi các đoàn xe quân sự Nga đi qua các con đường của Syria, không cần có các biện pháp an ninh. Họ dừng lại ở các quán ăn địa phương, họ nói chuyện vui vet với người dân địa phương. Khi người dân Nga đi qua các thành phố Syria, họ không cảm thấy sợ hãi. Họ không bị coi là một "lực lượng quân sự nước ngoài". Bây giờ họ là một phần của Syria. Họ là những người thân của gia đình. Người Syria làm cho họ cảm thấy như được ở nhà.

***

2- Ở Kabul, tôi luôn phải đối mặt với những bức tường. Tường là tất cả xung quanh tôi, tường bê tông, cũng như dây thép gai.

Một số bức tường cao tới 4-5 tòa nhà, với tháp canh ở mọi góc, được trang bị kính chống đạn. Người dân địa phương, người đi bộ, trông giống như những hồn ma. Họ đã tê liệt, đã quen với những nòng súng chĩa vào đầu, chân, thậm chí chĩa vào con cái của họ.

Hầu như tất cả mọi người ở đây đều phẫn nộ vì quân chiếm đóng, nhưng không ai biết phải làm gì, làm thế nào để chống lại. Lực lượng xâm lược của NATO vừa tàn bạo vừa áp đảo, chỉ huy và binh lính của nó lạnh lùng, tính toán và tàn nhẫn, bị ám ảnh với việc tự bảo vệ và chỉ bảo vệ bản thân chúng.

Các đoàn xe quân sự của Anh và Mỹ được bọc thép nặng nề sẵn sàng bắn vào “bất cứ thứ gì động đậy”, ngay cả với những động tác mơ hồ.

Người dân Afghanistan bị giết, hầu hết tất cả trong số họ bị bắn từ xa. Cuộc sống của người phương Tây là “quý giá nhất” khi tham gia vào cuộc chiến. Việc tàn sát được thực hiện bằng máy bay không người lái, bằng “bom thông minh” hoặc bằng cách bắn từ những phương tiện quái dị chạy dọc các thành phố Afghanistan và vùng nông thôn.

Trong cuộc chiếm đóng kỳ quặc này, không quan trọng là có bao nhiêu dân thường Afghanistan bị giết, miễn là cuộc sống của lính Mỹ hoặc châu Âu được an toàn. Hầu hết binh sĩ phương Tây được triển khai ở Afghanistan là lính chuyên nghiệp. Họ không bảo vệ đất nước của họ, họ được trả tiền để làm “công việc của họ”, một cách hiệu quả, với bất kỳ giá nào. Và tất nhiên, an toàn là đầu tiên, an toàn cho bản thân.

Sau khi phương Tây chiếm Afghanistan năm 2001, khoảng 100.000 đến 170.000 dân thường Afghanistan đã bị giết. Hàng triệu người đã buộc phải rời khỏi đất nước của họ đi tị nạn. Afghanistan hiện đứng thứ hai từ dưới lên (sau Yemen) ở châu Á, trong danh sách HDI (Chỉ số phát triển con người). Tuổi thọ người dân là thấp nhất ở châu Á (theo WHO).

***

3- Tôi làm việc ở cả Syria và Afghanistan, và coi đó là nhiệm vụ của mình để chỉ ra sự khác biệt giữa hai quốc gia và hai cuộc chiến này.

Cả Syria và Afghanistan đều bị phương Tây tấn công. Một người chống cự và chiến thắng, người còn lại bị chiếm giữ bởi các lực lượng Bắc Mỹ và Châu Âu, và do đó bị phá hủy.

Sau khi làm việc ở 160 quốc gia trên hành tinh này, và sau khi chứng kiến vô số cuộc chiến tranh và xung đột (hầu hết đều bị phương Tây và đồng minh kích động), tôi có thể thấy rõ mô hình: gần như tất cả các quốc gia rơi vào phạm vi ảnh hưởng của phương Tây giờ đều bị hủy hoại, cướp bóc và tàn phá. Họ đang gặp sự chênh lệch lớn giữa số lượng nhỏ “tinh hoa” là những cá nhân cộng tác với phương Tây với đại đa số người dân sống trong nghèo khổ. Hầu hết các quốc gia có quan hệ chặt chẽ với Nga hoặc Trung Quốc (hoặc cả hai), đều đang thịnh vượng và phát triển, tự tôn tự chủ và tôn trọng văn hóa, hệ thống chính trị và cấu trúc kinh tế của mình.

Chỉ vì hệ thống truyền thông đại chúng và hệ thống giáo dục thiên vị, cũng như định hướng gần như hoàn toàn thân phương Tây của các "phương tiện truyền thông xã hội", những sự tương phản gây sốc này giữa hai khối (vâng, giờ đây chúng ta lại có hai khối chính giữa các quốc gia) không liên tục được phản ánh và thảo luận.

***

4- Trong chuyến thăm gần đây của tôi đến Syria, tôi đã nói chuyện với nhiều người sống ở Damascus, Homs và Ein Tarma. Những gì tôi chứng kiến có thể được mô tả là niềm vui của người Hồi giáo, trong nước mắt. Cái giá phải trả cho chiến thắng là rất lớn. Nhưng niềm vui là vô giá, tất nhiên. Sự thống nhất, đồng thuận giữa người dân Syria với chính phủ của họ là rất rõ ràng và đáng chú ý.

Sự giận dữ đối với phương Tây và phiến quân là rất phổ biến. Tôi sẽ sớm mô tả tình hình trong các báo cáo sắp tới của tôi. Trong bài này, tôi chỉ muốn so sánh tình hình ở hai thành phố, hai quốc gia và hai cuộc chiến.

Ở Damascus, tôi cảm thấy như muốn làm thơ, nhiều lần. Ở Kabul, tôi chỉ có cảm hứng để viết một cáo phó, dài và buồn.

Tôi yêu cả hai thành phố cổ này, nhưng tất nhiên, tôi yêu chúng với những trạng thái cảm xúc khác nhau.

Nói một cách thẳng thắn, trong 18 năm chiếm đóng của phương Tây, Kabul đã bị biến thành một địa ngục quân sự hóa, bị phân mảnh và biến thành một thuộc địa trên trái đất. Mọi người đều biết điều đó, người nghèo biết điều đó và ngay cả chính phủ cũng biết điều đó.

Ở Kabul, toàn bộ các khu phố đã trở thành địa ngục. Chúng là nơi sinh sống của những cá nhân bị buộc phải sống trong các máng xối, hoặc dưới những cây cầu. Nhiều người trong số đó bị xua đuổi, mắc vào các chất ma túy, việc sản xuất ma tuý được hỗ trợ bởi quân đội chiếm đóng phương Tây. Tôi đã chụp được một số ảnh căn cứ quân sự của Hoa Kỳ được bao quanh bởi những đồn điền thuốc phiện. Tôi đã nghe những lời chứng thực của người dân địa phương, về việc quân đội Anh tham gia đàm phán và hợp tác với mafia địa phương.

Bây giờ các đại sứ quán phương Tây, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức quốc tế hoạt động ở Afghanistan, đã tìm cách vơ vét tài nguyên, tham nhũng về mặt trí tuệ và đạo đức, truyền bá tư tưởng cho một nhóm người bản địa, những người nhận được học bổng, được “đào tạo” ở châu Âu, để phục vụ cho những kẻ chiếm đóng. Họ đang làm việc ngày đêm để hợp thức hóa cơn ác mộng mà đất nước họ bị ném vào.

Nhưng những người lớn tuổi vẫn còn nhớ thời quân đội Xô viết và chế độ xã hội chủ nghĩa Afghanistan. Lớp người lớn tuổi vẫn chủ yếu mang tình cảm thân Nga, nuối tiếc những ngày Afghanistan được giải phóng và độc lập, tiến bộ và xây dựng tinh thần quyết tâm của quốc gia. Các nhà máy bánh mì, kênh dẫn nước, đường ống dẫn dầu, tháp điện cao thế và trường học của Liên Xô vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay, trên khắp cả nước. Trong khi đó, bình đẳng giới, chủ nghĩa thế tục và cuộc đấu tranh chống phong kiến của thời đó đến nay, dưới sự chiếm đóng của phương Tây, bị coi là bất hợp pháp.

Người Afghanistan được biết đến là một dân tộc tự hào và quyết đoán. Nhưng bây giờ niềm tự hào đó đã bị phá vỡ, lòng quyết tâm bị nhấn chìm trong biển bi quan và trầm cảm. Sự chiếm đóng của phương Tây không mang lại hòa bình, nó không mang lại sự thịnh vượng, độc lập của nền dân chủ, nếu dân chủ được hiểu là "sự cai trị của nhân dân”.

Ngày nay, giấc mơ lớn nhất của một thanh niên hay phụ nữ ở Kabul là được phục vụ cho những kẻ chiếm đóng, họ được “giáo dục” trong một trường học kiểu phương Tây, để có được một công việc tại đại sứ quán Hoa Kỳ hoặc một trong các cơ quan của Liên Hợp Quốc.

***

5- Ở Damascus, mọi người hiện đang nói về việc xây dựng lại đất nước. “Làm thế nào và khi nào các khu phố bị thiệt hại sẽ được xây dựng lại? Việc xây dựng hệ thống tàu điện ngầm triển khai trước chiến tranh sẽ sớm được tiếp tục lại? Cuộc sống sẽ tốt hơn trước?”.

Mọi người đã không chờ đợi. Tôi đã chứng kiến các gia đình và cộng đồng, cùng khôi phục lại các tòa nhà, nhà ở và đường phố của họ.

Vâng, ở Damascus tôi thấy sự lạc quan cách mạng thực sự trong hành động, sự lạc quan mà tôi đã mô tả trong cuốn sách gần đây của tôi về “Sự lạc quan cách mạng và chủ nghĩa hư vô phương Tây”. Nhà nước Syria bây giờ, một lần nữa, ngày càng mang tính cách mạng. Cái gọi là “phe đối lập” hầu như không có gì khác ngoài một cuộc lật đổ do phương Tây bảo trợ, một nỗ lực để đưa Syria trở lại những ngày đen tối của chủ nghĩa thực dân.

Damascus và chính phủ Syria không cần những bức tường to lớn, những đốm sáng gián điệp khổng lồ bay trên bầu trời; họ không cần xe bọc thép ở mọi góc và chiếc SUV toàn diện với súng máy giết người.

Vậy nhưng, những kẻ chiếm đóng Kabul cần tất cả những biểu tượng quyền lực chết người đó để duy trì sự kiểm soát. Tuy nhiên, họ không được mọi người ủng hộ hoặc yêu thương.

Ở Damascus, tôi tự do bước vào văn phòng của tiểu thuyết gia đồng nghiệp của mình, là Bộ trưởng Bộ Giáo dục Syria. Ở Kabul, tôi phải đi qua máy dò kim loại ngay cả khi chỉ muốn ghé vào một nhà vệ sinh.

Ở Damascus, có hy vọng, và cuộc sống diễn ra ở mọi góc phố. Quán cà phê chật cứng, mọi người nói chuyện, tranh luận, cười đùa cùng nhau và hút thuốc với nhau. Bảo tàng và thư viện cũng đầy người. Nhà hát tổ chức biểu diễn, vườn thú luôn sôi động người đến thăm, tất cả diễn ra bất chấp chiến tranh, bất chấp mọi khó khăn.

Ở Kabul, cuộc sống đã dừng lại. Ngoại trừ giao thông, và các khu chợ bán hàng thiết yếu phải có. Còn ngay cả Bảo tàng Quốc gia bây giờ cũng bị biến thành một pháo đài, và kết quả là, hầu như không ai có thể tìm thấy gì bên trong đó.

Người dân ở Damascus không biết nhiều những gì diễn ra ở Kabul. Nhưng họ quen thuộc với tin tức về Baghdad, Tripoli và Gaza. Và họ thà chết còn hơn là cho phép bị phương Tây chiếm đóng, hoặc cấy ghép chính phủ tay sai của chúng.

Hai cuộc chiến tranh, hai số phận, hai thành phố hoàn toàn khác biệt.

Bảy cửa ô của Damascus nay đã rộng mở. Người tị nạn đang trở về từ mọi hướng, từ mọi nơi trên thế giới. Đã đến lúc hòa giải, xây dựng lại đất nước, để làm cho Syria vĩ đại hơn cả trước khi cuộc xung đột xảy ra.
Kabul, vẫn thường xuyên bị rung chuyển bởi các vụ nổ, bị phân mảnh bởi những bức tường khủng khiếp. Động cơ máy bay trực thăng gầm rú phía trên, nhấp nháy đèn từ đôi mắt chết chóc của chúng theo dõi mọi thứ trên mặt đất. Máy bay không người lái, xe tăng, xe bọc thép khổng lồ.. Người nghèo, người vô gia cư, khu ổ chuột... Lá cờ Afghanistan khổng lồ bay trên Kabul. Một "lá cờ sửa đổi" xa lạ, không giống như lá cờ của quá khứ xã hội chủ nghĩa.

Ở Syria, cuối cùng đã thống nhất nhờ đánh bại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa cuồng tín và các giáo phái.
Ở Afghanistan, quốc gia bị chia rẽ, bị sỉ nhục, bị tước đoạt vinh quang trước đây.

Damascus đã thuộc về người dân của nó. Ở Kabul, người dân bị ngăn cách và cấm đoán bởi những bức tường bê tông và căn cứ quân sự dựng lên bởi những kẻ xâm lược nước ngoài.

Ở Damascus, mọi người đã chiến đấu, chết cho đất nước và thành phố của họ.
Ở Kabul, mọi người sợ hãi, thậm chí sợ hãi ngay cả trong việc nói về đấu tranh cho tự do.

Damascus đã thắng. Nó đã giành lại tự do một lần nữa.
Kabul cũng sẽ thắng. Có lẽ không phải hôm nay, không phải năm nay, nhưng nó sẽ thắng. Tôi tin rằng nó sẽ chiến thắng!

Tôi yêu cả hai thành phố. Nhưng một người bây giờ đang ăn mừng, trong khi người còn lại vẫn quằn quại khổ đau, nỗi đau không thể nào tưởng tượng được...

(Tác giả: Andre Vltchek, phóng viên vì hòa bình. Biên dịch: Ngô Mạnh Hùng)
===
P/s: một số người vẫn vì ấu trĩ hoặc cố tình đánh đồng, rằng Nga hay Mỹ cũng đều vì lợi ích của mình, cũng đều là đế quốc. Đọc từ những cây bút thực tế này để rõ ai là sứ giả hòa bình, ai là ác quỷ chiến tranh.

Và tôi thấy ở đây, hình ảnh của cả một quá trình lịch sử rất dài của Việt Nam. Bài viết thật nhiều cảm xúc..

BỘ MẶT THẬT "YÊU SÁCH TÁM ĐIỂM NĂM 2019" CỦA NHỮNG KẺ TỰ XƯNG TỰ DO, DÂN CHỦ, CÔNG LÝ

Gần 100 năm trước, ngày 28-6-1919, các nước thắng trận gồm Anh, Pháp, Nga, Ý, Mỹ và các nước bại trận là Đức, Áo – Hungary và Thổ Nhĩ Kỳ đã họp Hội nghị tại Versailles, Pháp để ký kết các hòa ước chính thức cũng như phân chia quyền lợi cho các nước thắng trận.
Thời điểm đó, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Pháp, đã tổ chức nhóm người Việt Nam yêu nước tại Paris và các tỉnh ở Pháp, soạn thảo “Bản yêu sách của dân tộc Việt Nam gửi đến Hội nghị Véc-xây”. Bản yêu sách gồm 8 điểm, yêu cầu Chính phủ Pháp trao trả một số quyền tự do, dân chủ cơ bản, tối thiểu cho nhân dân Việt Nam. Sự kiện đó đã đi vào lịch sử.
Vậy mà, ngày 19-12-2018, 100 tổ chức và cá nhân tự xưng là người Việt Nam yêu tự do, dân chủ và công lý đã khởi xướng cái gọi là “Yêu sách tám điểm năm 2019”, nhại lại bản yêu sách năm xưa để gửi đến lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Tổng Thư ký Liên hiệp quốc và các cơ quan ngoại giao quốc tế tại Việt Nam.

Bộ mặt thật trong“Yêu sách tám điểm năm 2019” là gì, xin phân tích rõ các nội dung sau:
Một là, đòi hỏi vô căn cứ của “Yêu sách tám điểm năm 2019”
“Yêu sách tám điểm năm 2019” đặt ra những đòi hỏi vô lý, không có cơ sở khoa học và thực tiễn khi yêu cầu Đảng, Nhà nước Việt Nam trả tự do vô điều kiện cho tất cả tù nhân đang chấp hành án vì thực hiện các hành vi: “gây rối trật tự”, “tuyên truyền chống nhà nước”, “hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân” và bỏ định hướng chính trị đối với giáo dục và đào tạo.
Những người bị tước đi một số quyền công dân vì thực hiện các hành vi “gây rối trật tự”, “tuyên truyền chống nhà nước”, “hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân” đều bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Khi tù nhân chưa tiến bộ, chưa chấp hành hết thời gian giam giữ theo bản án thì không thể trả tự do là điều đương nhiên.
Thông Tư số 06/2018/TT-BCA, ngày 12-02-2018 quy định tiêu chuẩn thi đua trong chấp hành án phạt tù và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân.
Tại chương II, tiêu chuẩn thi đua trong chấp hành án phạt tù và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân, gồm 16 điều, từ Điều 7 đến Điều 22 quy định rõ quá trình chấp hành án của phạm nhân, phấn đấu tốt sẽ được giảm nhẹ hình thức giam giữ. Bên cạnh đó, tính nhân văn của chế độ XHCN cũng được biểu hiện qua quyết định đặc xá của Chủ tịch nước và quyết định giảm án, tha tù của cấp có thẩm quyền dành cho những tù nhân có hướng phấn đấu, hoàn lương.
Những tù nhân chưa chấp hành án đúng thời gian theo bản án và chưa có sự tiến bộ thì chưa thể được hưởng các quy định này. “Yêu sách tám điểm 2019” đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta trả tự do vô điều kiện là không có căn cứ.
“Yêu sách tám điểm 2019” đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta bỏ tính định hướng trong giáo dục và đào tạo thực chất là tạo cơ sở để các tổ chức phản động ngoài nước tham gia vào công tác giáo dục và đào tạo của nước nhà; hòng đưa ý thức hệ đối lập vào thế hệ trẻ, qua đó nhằm mục đích “không đánh mà tan”, kéo theo “sự nhạt nhòa”, xa rời tôn chỉ, thiếu kiên định, hoang mang, dao động và chống đối, lật đổ chế độ XHCN ở nước ta.
Rõ ràng, những đòi hỏi, yêu sách trên là không thể chấp nhận, cần nhận diện và thẳng thắn đấu tranh, phê phán, loại bỏ.
Hai là, xuyên tạc, phủ nhận các vấn đề tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do đi lại, cư trú
Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam quy định, công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được tập trung, cụ thể hóa tại Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Công nghệ thông tin.
Công dân có quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí thông qua việc sáng tạo tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí; liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; in, phát hành báo in; phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí.
Nhà báo có nghĩa vụ và chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người đứng đầu cơ quan báo chí về nội dung tác phẩm báo chí của mình. Nếu thông tin đăng tải sai sự thật, trái với quy định của pháp luật thì buộc phải xem xét, thu hồi, xử lý.
Những cá nhân, tổ chức cố tình lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để công khai chống Đảng, Nhà nước, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, phản bội Tổ quốc, chế độ thì đều phải bị xử lý để đảm bảo được tính dân chủ có tập trung, không tạo kẽ hở cho dân chủ vô nguyên tắc.
Có một thực tế, theo báo cáo của Bộ TT&TT, tính đến tháng 6-2018, cả nước có 857 cơ quan báo, tạp chí in, trong đó, cơ quan báo in có 86 cơ quan Trung ương, 107 cơ quan địa phương. Tạp chí in có 350 đơn vị Trung ương, 134 đơn vị địa phương. Báo điện tử và tạp chí điện tử có 159 đơn vị.
Cả nước hiện tại cũng có 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương. Số lượng thẻ nhà báo đã cấp mới trong 6 tháng đầu năm là 1.066, trong đó cấp mới 1.032 thẻ, cấp lại 34 thẻ. Đến nay, tổng số thẻ nhà báo đã cấp là 19.166 thẻ. Số trang thông tin điện tử tổng hợp Bộ đã cấp phép đến hết tháng 6-2018 là 1.510. Số mạng xã hội trong nước được cấp phép là 228.
Bên cạnh đó, có hơn 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam, nhiều báo và tạp chí nước ngoài in bằng nhiều thứ tiếng được phát hành rộng rãi tại Việt Nam, cùng với rất nhiều cơ quan báo chí trong nước thường xuyên phản ánh thông tin đa chiều trên bình diện đời sống chính trị – xã hội Việt Nam đến mọi người dân; người dân được bày tỏ tâm tư, tình cảm đến lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng thông qua báo chí. Sự thật này bác bỏ luận điệu xuyên tạc Việt Nam tự do ngôn luận, tự do báo chí của các thế lực thù địch, phản động.
Ở Việt Nam, quyền tự do đi lại, cư trú của công dân luôn được tôn trọng và bảo vệ. Song, những cá nhân phản bội Tổ quốc, có hành vi móc nối các tổ chức phản động nước ngoài xâm phạm an ninh quốc gia, thực hiện các hành vi chống phá, đang tị nạn ở nước ngoài về Việt Nam để tiếp tục chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ thì việc áp dụng những biện pháp ngăn chặn là cần thiết.
Trên thế giới, mọi quốc gia đều có quy định nhằm ngăn chặn, đấu tranh với các đối tượng hoạt động gây nguy hại đến an ninh quốc gia; bất kỳ cá nhân nào có hoạt động gây nguy hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội đều phải bị nghiêm trị.
Luận điệu xuyên tạc Việt Nam vi phạm quyền tự do đi lại, tự do cư trú của công dân chỉ là nguyên cớ để tạo sức ép, can thiệp nội bộ, nhằm đưa những cá nhân bất hảo, phản quốc để kích động, gây rối, chống phá, tạo nguyên cớ để can thiệp vào chế độ của ta.
Hiến pháp và pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng quyền lập hội của công dân; những hội được công dân lập ra dựa trên nhu cầu chính đáng của con người và hoạt động vì tiến bộ của cá nhân, gia đình, xã hội, tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật nhà nước luôn được tôn trọng và khuyến khích phát triển.
Nghị định 45/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định cụ thể, rõ ràng về việc tổ chức, hoạt động và quản lý hội, trong đó việc tổ chức, hoạt động của hội được thực hiện theo các nguyên tắc tự nguyện, tự quản, dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, tự bảo đảm kinh phí hoạt động, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và điều lệ hội, không vì mục đích lợi nhuận.
Tuy nhiên, thành lập các hội, nhóm để trở thành tổ chức đối lập với các tổ chức trong hệ thống chính trị Việt Nam, hoạt động không tuân thủ theo pháp luật của nhà nước, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, xâm phạm lợi ích quốc gia dân tộc thì hiển nhiên không được chấp nhận ở Việt Nam.
Luận điệu xuyên tạc Việt Nam vi phạm quyền lập hội, nhóm được “Yêu sách tám điểm năm 2019” đề cập thật là thiển cận, bản chất là tạo bàn đạp, cơ sở thành lập các tổ chức xã hội dân sự đối lập, thực hiện các hành vi chống phá, kích động, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Ba là, xuyên tạc mô hình nhà nước pháp quyền XHCN và chế độ bầu cử ở Việt Nam
Điều 2, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” và “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam luôn hướng tới đảm bảo dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân, phát triển năng lực làm chủ và thực hành dân chủ của nhân dân trên tư cách người chủ của nhà nước và xã hội.
Điều này đã được Đại hội XII của Đảng xác định: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị” là sự lựa chọn đúng đắn, cần phải kiên định thực hiện.
Những luận điệu nói nền pháp luật của Việt Nam không có sự công bằng trong bầu cử và ứng cử là sai sự thật. Mô hình nhà nước pháp quyền XHCN của Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển, không thể coi “tam quyền phân lập” là sự lựa chọn phù hợp ở nước ta.
Hồng Phú/Báo CAND

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2019

THẤY GÌ SAU PHONG TRÀO ÁO VÀNG TẠI PHÁP?

"Chúng tôi muốn có một Chính phủ như Việt Nam” được cho là câu trả lời đầy bất ngờ của những người giương cao lá cờ Việt Nam trong đoàn người biểu tình tại Pháp với mong muốn có một chính phủ thực sự vì dân như ở Việt Nam.

Người Pháp giương cao lá cờ Việt Nam như một biểu tượng của lòng quả cảm chống bất công, bóc lột, sự bình đẳng, ấm no và hạnh phúc. Vậy mà, không ít kẻ khoác áo “dân chủ” trong nước lại đang lăm le tìm mọi cách để lật đổ chính quyền đẩy đất nước vào cảnh hỗn loạn như Pháp hiện nay.

Xuất phát từ phong trào phản đối chính sách tăng giá nhiên liệu của chính phủ, cuộc biểu tình của những người “Áo vàng” đã khắc họa một nước Pháp bị chia rẽ sâu sắc với các cuộc bạo loạn vô cùng nghiêm trọng kéo dài suốt thời gian qua.


Thành Paris khói lửa ngút trời, khu vực Khải Hoàn Môn như vùng chiến sự. Tính đến thời điểm này ít nhất 682 người đã bị bắt giữ, 263 người bị thương Máu và nước mắt của những người vô tội nơi đây có lẽ sẽ còn rơi khi thảm kịch này vẫn chưa có dấu hiệu dừng. Đáng chú ý là trong dòng người xuống đường tại Pháp người ta bất ngờ thấy hình ảnh những lá cờ Tổ quốc của Việt Nam trên tay người dân Pháp và câu trả lời thật bất ngờ!!!.

“Áo vàng” – họ là ai?

Áo vàng, trước hết là một phong trào phản kháng của nhân dân. “Áo vàng” là quy tụ của rất nhiều tầng lớp: người lao động lương thấp, hợp đồng ngắn, người về hưu bị tăng CSG (tiền đóng góp xã hội), công nhân đường sắt đang bị đe dọa sa thải, học sinh- sinh viên phản đối tăng học phí và đòi cải cách đầu vào Đại học.


Khi chính phủ Pháp đưa ra chính sách tăng thuế đánh vào xăng dầu, mà mục đích là để có thêm tiền tài trợ cho chiến lược dài hơi về chuyển đổi sang các ngành năng lượng xanh, họ không ngờ rằng chỉ vài chục cent tăng lên trên mỗi lít nhiên liệu lại đủ để làm tràn cả ly nước giận dữ.

Tất cả những mặc cảm, bức xúc, giận dữ… đó không phải do vị Tổng thống trẻ Emmanuel Macron tạo ra mà là tích góp bao năm qua từ các đời Tổng thống trước đó của các ông Chirac, Sarkozy, Hollande. Chỉ có điều, thái độ cứng rắn của ông Macron, đã khiến mọi thứ dần vượt tầm kiểm soát.

Điệp khúc “chúng tôi sẽ không từ bỏ mục tiêu” mà các ông Macron, Édouard Philippe… nhắc đi nhắc lại trong những ngày qua bị xem như là lời thách thức đầy khinh miệt với phong trào phản kháng, mà về sâu xa là xuất phát từ những bức xúc và đòi hỏi chính đáng của một lượng lớn người dân Pháp. Để rồi hiện tại thì tất cả được dịp bùng nổ.

“Chúng tôi muốn có một Chính phủ như Việt Nam”


Được biết, chia sẻ trên là câu trả lời đầy bất ngờ của những người giương cao lá cờ Việt Nam trong đoàn người biểu tình tại Pháp với mong muốn có một chính phủ thực sự vì dân như ở Việt Nam. Một quốc gia mà trong quá khứ đã từng là thuộc địa của Pháp. Và giờ đây đất nước, con người Việt Nam đã trở thành biểu tượng của lòng quả cảm trong những năm kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ xâm lược.

Để thấy trong khi người Việt trên khắp mọi miền đất nước vẫn sống yên bình trong một đất nước an toàn, ổn định chính trị nhất nhì thế giới thì người Pháp đã thực hiện đầy đủ combo đột phá + cướp bóc khắp mọi nơi. Paris xịn hiện đang chìm trong biển lửa trong khi Paris replica ven sông Hồng, người dân vẫn ngủ ngon lành.

Đến đây có thể hiểu người Pháp giương cao lá cờ Việt Nam như một biểu tượng của lòng quả cảm chống bất công, bóc lột, sự bình đẳng, ấm no và hạnh phúc. Vậy mà, không ít kẻ khoác áo “dân chủ” trong nước lại đang lăm le tìm mọi cách để lật đổ chính quyền đẩy đất nước vào cảnh hỗn loạn như Pháp hiện nay. Thật may vì cho đến thời điểm này thì tất cả những âm mưu, thủ đoạn và hành động của chúng đều bị đập tan.


Không khó để nhìn sang các nước Trung Đông, Bắc Phi khi các cuộc biểu tình đường phố đã biến thành bạo lực dưới chiêu bài dân chủ. Những chính thể mới lên nắm quyền không những không hiện thực hóa được hy vọng của người dân về “Bánh mì, tự do và công bằng xã hội” mà còn làm cho kinh tế sa sút, an ninh bất ổn.

Vậy mà tụi 03 sọc cứ rêu rao "cả thế giới tẩy chay cộng sản". Thật quá đỗi nực cười.

@giaidocthongtinxuyentac

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2019

TẠI SAO VIỆT NAM CÓ THỂ TỒN TẠI NHIỀU NGHÌN NĂM BÊN CẠNH MỘT "ĐẾ QUỐC" TRUNG HOA HÙNG MẠNH ?

1- Quan hệ Việt – Trung, Ân và Oán
Đầu năm 2012, Viện Nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam đã đăng bài nghiên cứu phản biện sắc bén của Tiến Sĩ Vũ Cao Phan. Bài viết này đã lược lại lịch sử quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ hàng nghìn năm nay và phân định khá rạch ròi đâu là ÂN, đâu là OÁN. Cổ nhân có câu "Ân đền oán trả". Truyền thống của người Việt Nam nói chung (đa số, không phải thiểu số) là "ân đền". Coi việc "đền ơn" như một nghĩa vụ của lòng nhân. Nhưng người Việt Nam không hiểu hai từ "Oán trả" theo cách hiểu của người Trung Quốc. Người Trung Quốc có câu: "Oan oan tương báo" có nghĩa là "lấy oán trả oán". Người Việt Nam có truyền thống "lấy ân báo oán, oán tất tan". Điều đó đã được Nguyễn Trãi tổng kết trong "Cáo Bình Ngô": “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn Đem chí nhân để thay cường bạo”. Trong lịch sử hơn 4.000 năm quan hệ giữa hai dân tộc, Trung Quốc đã gây ra 13 cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn và hàng trăm vụ khiêu khích, xâm lấn khác đối với Việt Nam. Và tất cả đều bị đánh bại, không sớm thì muộn. Mỗi lần tống tiễn xong những người khách không mời đến từ phương Bắc, người Việt Nam lại "trải chiếu hoa" đón tiếp sứ giả, cho sứ thần sang phương Bắc triều cống, tái kết hòa hiếu, lập lại quan hệ hòa bình giữa hai dân tộc. Điều đó không chỉ là chuyện "lấy ân báo oán, oán tất tan" mà còn là cách tồn tại của một dân tộc nhỏ nhưng vừa bất khuất, kiên cường, vừa mềm dẻo, giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ một cách khéo léo bên cạnh một nước lớn khổng lồ vào bậc nhất thiên hạ.


Để giữ được nước thì nhiệt huyết, đức hy sinh, ý chí xả thân và vũ khí hiện đại là chưa đủ. Phải có cả sự khôn ngoan, khéo léo, lựa thời chọn thế, biết mình biết người thì mới bảo vệ chắc chắn chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển và hải đảo của Tổ Quốc. Một trong những nét đặc sắc của sự khôn khéo của tiền nhân trong ứng xử với Trung Quốc là bên cạnh những cuộc Nam chinh xâm lược của Trung Quốc, trong lịch sử đã có nhiều giai đoạn hai dân tộc đã từng giúp đỡ nhau chống ngoại xâm, từng nương tựa vào nhau để tồn tại. Điều này có vẻ vô lý khi hình dung một quốc gia bé xíu như Việt Nam có thể giúp đỡ được người khổng lồ Trung Quốc. Tuy nhiên, đó lại là những sự kiện đã được lịch sử ghi lại bằng văn tự, di tích, lễ hội hoặc qua văn chương truyền miệng. Sau đây là một vài ví dụ tiêu biểu.

- Lý Ông Trọng: Vào thế kỷ thứ I trước Công nguyên, dưới thời trị vì của An Dương Vương, Lý Ông Trọng (tên thật là Lý Thân), người làng Chèm, một danh tướng người Việt đã được triều đình Âu Lạc cử sang giúp nhà Tần chống quân xâm lược Hung Nô. Đại Việt sử ký toàn thư thì chép rằng: Từ lúc ít tuổi, ông đến hương ấp làm lực dịch, bị trưởng quan đánh, bèn bỏ sang nước Tần, làm quan đến chức Tư lệ hiệu úy. Sách “Việt sử tiêu án” và sách “Việt điện u linh” cũng chép sự kiện này. Đền thờ Lý Ông Trọng được xây dựng từ năm 603 ở làng Chèm, nay thuộc phường Thụy Phương, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Ngọc Phả của đình Chèm cũng chép rõ công tích của ông. Lễ hội tưởng nhớ ông được tổ chức từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 5 âm lịch hàng năm.

- Nhà Trần cự tuyệt việc cho quân Nguyên – Mông mượn đường đánh Tống. Giữa thế kỷ XIII, Đế quốc Mông Cổ xâm lược và chiếm đóng nhiều quốc gia từ Á sang Âu và chuẩn bị đánh chiếm phía Nam Trung Quốc (Nam Tống). Hãn Mông Kha (Mongke) cử tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqatai) chiếm Đại Lý (Vân Nam) và đề nghị nhà Trần của Việt Nam cho mượn đường đánh tập hậu nhà Nam Tống. Triều đình nhà Trần thấy rõ kế “mượn đường diệt Quắc” của quân Nguyên nên cự tuyệt, bất chấp sự đe dọa “làm cỏ nước Nam” của tướng giặc. Ngày 17 tháng 1 năm 1258, quân Mông Cổ phát binh đánh Việt Nam từ hướng Vân Nam. quân đội nhà Trần dù phải bỏ Thăng Long nhưng kiên quyết kháng cự. Ngày 28 tháng 1 năm 1258, quân đội nhà Trần phản công, chỉ 10 ngày sau đã đánh đuổi quân Nguyên khỏi Đại Việt. Trong cuộc chiến này, Đại Việt vừa tự bảo vệ mình, đồng thời cũng là bảo vệ sườn phía Nam cho Trung Quốc.

- Tướng Tống và binh sĩ người Hoa trong quân đội nhà Trần. Năm 1278, quân Nguyên Mông đánh chiếm toàn bộ Trung Quốc. Hoàng tộc nhà Tống nhảy xuống biển tự tử. Nhà Tống diệt vong. Tuy nhiên, một đạo quân Tống hơn 1.000 người do tướng Triệu Trung cầm đầu đã đào thoát sang Đại Việt, được Trần Nhật Duật thu nạp và đưa về Thắng Long. Ngày 21 tháng 7 năm 1284, quân Nguyên do thái tử Toghan (Thoát Hoan) chỉ huy xâm lược Đại Việt lần thứ hai. Tướng quân Nguyên Sogetu (Toa Đô) sau khi bình định Chiêm Thành ở phía Nam cũng tấn công ra Châu Hoan, Châu Ái. Hai đầu Đại Việt đều có giặc. Trong các trận phản công chiến lược của quân đội nhà Trần ở Hàm Tử, Tây Kết, Chương Dương, đội quân của Triệu Trung đã góp phần làm nên chiến thắng của quân đội nhà Trần và giải phóng Thăng Long. Quân Nguyên – Mông phải triệt thoái khỏi Đại Việt sau gần một năm chiến tranh. Sau này, không thấy sử sách chép thêm về tướng Triệu Trung và đội quân của ông. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, họ đã định cư ở Đại Việt và được Việt hóa.

- Lưu Vĩnh Phúc. Năm 1864, Nhà Thanh với sự trợ giúp của quân đội Anh, Mỹ và Pháp đã dẹp tan khởi nghĩa “Thái bình thiên quốc”. Triều đình nhà Thanh đã “bán đất cầu an”. Các thế lực đế quốc phương Tây bắt đầu xâu xé Trung Quốc. Một viên tướng trong quân đội Thái Bình Thiên Quốc là Lưu Vĩnh Phúc dẫn theo 200 lính Trung Quốc chạy sang Đại Nam (quốc hiệu Việt Nam đời Minh Mạng). Triều đình nhà Nguyễn thu nạp viên tướng này, cho phép tuyển binh ở Việt Nam, lập nên đội quân Cờ Đen có quân số khoảng 600 người. Năm 1869, quân nhà Nguyễn phối hợp với quân Cờ Đen đánh bại quân Cờ Vàng (cũng vốn là di duệ của Thái Bình Thiên Quốc) xâm nhập biên giới Việt Nam ở Lào Cai và Hà Giang. Ngày 19-11-1873, đại úy hải quân Pháp Francis Garnier cầm đầu 171 quân Pháp và hơn 150 quân đánh thuê người Vân Nam tấn công Thành Hà Nội lần thứ nhất. Hà Nội thất thủ, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị thương nặng mà chết. Ngày 18-12-1873, Lưu Vĩnh Phúc dẫn quân Cờ Đen kéo về lập trại ở Phủ Hoài Đức. Ngày 21-12, Francis Garnier dẫn quân Pháp ra cửa Tây thành nghênh chiến, bị quân nhà Nguyễn và quân Cờ Đen mai phục tiêu diệt ở Cầu Giấy. Francis Garnier bị giết. Quân Pháp phải bỏ thành Hà Nội theo đường thủy rút vào phía Nam. Sau chiến thắng này, Lưu Vĩnh Phúc được thăng lên làm Phó Lãnh binh dưới trướng Hoàng Tá Viêm (có sách chép là Hoàng Kế Viêm). Ngày 23-4-1882, Đại tá hải quân Pháp Henri Rivière cầm đầu 480 lính thủy đánh bộ tấn công thành Hà Nội lần thứ hai. Thành Hà Nội thất thủ chỉ sau vài giờ giao chiến. Tổng đốc Hoàng Diệu thắt cổ tự tử. Henri Rivière thừa thắng đem quân đánh rộng ra đồng bằng Bắc Bộ, chiếm thành Nam Định và cảng Hòn Gai. Ngày 10-5, Lưu Vĩnh Phúc lại dẫn quân Cờ Đen về đóng ở Phủ Hoài Đức và gửi tối hậu thư thách Henri Rivière giao chiến. Ngày 19-5-1882, Henri Rivière dẫn 500 quân tấn công Phủ Hoài Đức. Quân Cờ Đen và quân nhà Nguyễn lại mai phục tại Cầu Giấy, có trận địa pháo yểm hộ tại Hạ Yên Quyết. Sau ba giờ chiến đấu, quân Cờ Đen và quân Nhà Nguyễn làm chủ trận địa, giết chết Henri Rivière và hơn 50 lính Pháp, 76 tên khác bị thương. Quân Pháp phải rút vào cố thủ trong thành Hà Nội. Sau trận này, Lưu Vĩnh Phúc trực tiếp chỉ huy phòng thủ trong trận Pháp đánh thành Sơn Tây, tham gia phòng thủ thành Hưng Hóa, giao chiến với quân Pháp ở Lạng Sơn và bao vây 1 tiểu đoàn quân Pháp ở Tuyên Quang. Có thể nói cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ nhất của người Việt Nam đã làm cho Lưu Vĩnh Phúc từ thân phận một tội phạm bị nhà Thanh truy nã trở thành một công thần trong cuộc chiến chống các thế lực thực dân của Việt Nam và Trung Quốc cuối thế kỷ 19.

- Chiến thắng Thập Vạn Đại Sơn. Tháng 4 năm 1949, Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) vượt sông Trường Giang Nam hạ, liên tiếp đánh bại quân Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch, đánh chiếm Nam Kinh. Theo đề nghị của đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc và Tư lệnh Biên khu Việt - Quế (Quảng Đông - Quảng Tây), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam phái một lực lượng vũ trang sang giúp Trung Quốc chiến đấu để “xây dựng một khu giải phóng ở vùng Ung–Long – Khâm liền với biên giới Đông Bắc ta, thông ra bể, tạo điều kiện khuếch trương lực lượng, đón Đại quân Nam Hạ” (Trích mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, ngày 23-4-1949). Chiến dịch “Thập Vạn Đại Sơn” kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1949. Lực lượng của Giải phóng quân Trung Quốc gồm 3 tiểu đoàn địa phương, do đồng chí Trần Minh Giang (Chen Mingjiang) chỉ huy. Lực lượng Việt Nam tham gia chiến dịch gồm một số tiểu đoàn thuộc 3 trung đoàn 28, 174, 95, do đồng chí Lê Quảng Ba chỉ huy. Lực lượng Quốc dân đảng có 5 trung đoàn. Trên hướng Long Châu, bộ đội Việt Nam đánh chiếm Bằng Tường, Thuỷ Khẩu (ngày 12-6), Hạ Đồng (ngày 13-6). Ngày 18-6, Bộ đội Việt Nam đã diệt 1 tiểu đoàn viện binh Quốc dân Đảng từ Long Châu xuống và tiến đánh Ninh Minh. Trên hướng Khâm Châu, trong thời gian từ ngày 3 đến ngày 9-7, liên quân Trung-Việt đánh thị trấn Trúc Sơn (Zhushan) nằm trên đường từ Đông Hưng đến Phòng Thành nhưng không thành công. Ngày 25-7, liên quân Việt - Trung chuyển sang tấn công quân Quốc dân Đảng tại Voòng Chúc, Mào Lênh, tiến sát Phòng Thành. Quân Quốc dân đảng phải rút khỏi các đồn bốt nhỏ, tập trung về bào vệ các thị trấn Long Châu, Nà Lương, Phòng Thành, Đông Hưng. Chiến dịch kết thúc vào tháng 10 khi cánh quân từ phía bắc của Quân Giải phóng Trung Quốc đánh chiếm Nam Ninh. Tại Biên khu Việt - Quế, liên quân Trung - Việt đã chiếm được 10 trên 12 vị trí thuộc 3 huyện Long Châu, Khâm Châu, Phòng Thành, mở rộng vùng giải phóng, tạo điều kiện thuận lợi cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Để ghi công và tưởng nhớ các chiến binh đã tử trận trong chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, tại thị trấn Đông Hưng (Trung Quốc) có một đài liệt sĩ trên khắc song song hai hàng chữ Việt – Hán: "Đài kỷ niệm liệt sĩ cách mạng nhân dân Việt – Trung". Trên bệ có khắc một bia bằng tiếng Việt "Nhân dân Việt Nam đời đời nhớ ơn các chiến sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và tình hữu nghị giữa các dân tộc. 1956, Đảng Lao động và Mặt trận Tổ quốc, Ủy ban hành chính tỉnh Hải Ninh". Hài cốt của các tử sĩ Việt Nam và Trung Quốc được quy tập và chôn cất dưới chân đài. Trong chiến dịch, tại Thủy Khẩu (thị trấn cửa khẩu thuộc huyện Long Châu, Trung Quốc, đối diện cửa khẩu Tà Lùng, Cao Bằng, Việt Nam) diễn ra trận đánh kéo dài 2 ngày đêm của liên quân Trung - Việt chống lại 3 trung đoàn quân Quốc dân Đảng. Trong số những người tử trận có Chủ tịch huyện Long Tân Ngu Khắc Hàn và 22 chiến sĩ Việt Nam. Để tưởng nhớ liệt sĩ của hai nước, Chính phủ Trung Quốc cho quy tập các hài cốt đã an táng tại Khiếu Lâm, La Hồi và Hạ Đồng về Thủy Khẩu, lấy tên là “Nghĩa trang Liệt sĩ Trung Việt tại Thủy Khẩu Long Châu” (龙州水口中越烈士陵园 - Long Châu Thủy Khẩu Trung Việt Liệt Sĩ Lăng Viên). Đây là một trong các địa điểm du lịch của Long Châu.
2- Vì sao nhiều dân tộc bên rìa Trung Quốc đã diệt vong hoặc bị Trung Quốc đồng hóa ?
Hãy thử nhìn lại những dân tộc đã mất đất vào tay Trung Quốc hoặc thậm chí là diệt vong, bị Trung Quốc đồng hóa trong lịch sử:
- Bách Việt: Thời Nhà Tần, Trung Quốc mới chỉ chiếm được một số điểm lẻ tẻ ở phía Nam sông Dương Tử. Có đến 100 tộc người Việt từng tồn tại ở phía Nam sông Dương Tử: Mân Việt, Đông Việt, Nam Việt, Hồ Việt, Điền Việt, Dương Việt, Cán Việt, Sơn Việt, Ư Việt, Âu Việt, Lạc Việt, Câu Ngô, Dạ Lang .v.v... Thế nhưng đến nay, tất cả đều bị diệt vong. Duy nhất Lạc Việt còn tồn tại và đến nay là Việt Nam. Tại sao vậy ?

- Thổ Phồn (hay Thổ Phiên hoặc Thổ Phiền), một quốc gia Phật giáo từng thống trị Tây Tạng, từng cạnh tranh với Nhà Đường của Trung Quốc. Thổ Phồn khống chế gần như toàn bộ con đường tơ lụa suốt từ thế kỷ VI đến thế kỷ IX. Đến năm 877 diệt vong và bị sáp nhập vào Trung Quốc. Tại sao vậy ?

- Người Nữ Chân: Từng có triều đại nhà Kim hùng mạnh, thôn tính nhà Liêu, từng đánh bại nhà Tống nhiều lần, thống trị Mãn Châu, từng chịu ách đô hộ của Mông Cổ, từng là nơi phát tích của nhà Thanh. Cuối cùng, bị Hán hóa. Tại sao vậy ?

- Người Tây Khương: Cư trú ở địa bàn miền Tây tỉnh Tứ Xuyên ngày nay, từng bành trướng lãnh thổ ra khắp vùng, uy hiếp nhà Hán. Nhưng cuối cùng vẫn trở thành một tộc người thiểu số và bị sáp nhập vào Trung Quốc. Tại sao vậy ?

- Nhà nước Hung Nô (thường bị nhầm với đế quốc Mông Cổ) từng là một nhà nước hùng mạnh của người Mông Cổ từ thế kỷ III đến thế kỷ IV. Chỉ sau 1 thế kỷ, bị người Hán vừa chia rẽ vừa đồng hóa, bị chia cắt thành hai phần: Nam Hung Nô và Bắc Hung Nô. Năm 431, nhà nước Hung Nô sụp đổ, Nam Hung Nô bị Hán hóa, bây giờ là Khu tự trị Nội Mông. Tại sao vậy ?

- Người Duy Ngô Nhĩ (còn gọi là người Hồi hay Hồi Hột) từng có một Vương quốc Hồi Cốt (Hãn quốc Uyghur) hùng mạng vào thế kỷ thứ VIII, chiếm cứ toàn bộ Mông Cổ và phía Bắc Trung Quốc, uy hiếp nhà Đường. Nhưng chỉ 104 năm sau, đã bị người Hán dùng kế ly gián đánh bại. Hãn Quốc Uyghur diệt vong. Tại sao vậy ?

- Cao Câu Ly (Koguryŏ), vương quốc hùng mạnh nhất trên bán đảo Triều Tiên từ năm 37 TCN và đến năm 668 SCN. Vào thời cực thịnh năm 476, sau nhiều cuộc chinh phạt, lãnh thổ Cao Câu Ly mở rộng ra Đông Mãn Châu và Bắc Nhiệt Hà, Bán đảo Liêu Đông, Bán đảo Sơn Đông. Cuối thể kỷ VII, nhà Đường liên minh với hai vương quốc ở phía Nam bán đảo Triều Tiên là Bách Tế (Baekje) và Tân La (Silla) đánh bại Cao Câu Ly. Mãn Châu rơi vào tay Trung Quốc. Đế quốc Cao Câu Ly sụp đổ và bị Nhà Đường thôn tính. Đến năm 918, nhà nước Cao Ly mới phục hồi và trở thành nhà nước Triều Tiên (Triều đại Chosun) nhưng toàn bộ phần đất phía Bắc sông Áp Lục đã mất về tay Trung Quốc. Tại sao vậy ?

- Đế quốc Mông Cổ: Khét tiếng toàn cầu với hình ảnh”vó ngựa Nguyên – Mông đi đến đâu, cỏ không mọc được đến đó”. Mông Cổ từng xâm chiếm toàn bộ Trung Quốc, gần như toàn bộ Châu Á, Bắc Tiểu lục địa Ấn Độ và phần phía Đông Châu Âu. Từng thảm bại ba lần tại Việt Nam. Cuối cùng, vẫn bị Trung Quốc Hán hóa gần hết và co lại thành nước Mông Cổ ngày nay trên một vùng đất khô cằn. Có thể nói, chính cuộc xâm lăng của Đế quốc Mông Cổ đã giúp người Hán có được định hình được lãnh thổ Trung Quốc gần giống như ngày nay. Nó chứng minh một chân lý mà Ăng Ghen đã đúc kết: “Kẻ chinh phục bị nền văn hóa của dân tộc bị chinh phục chinh phục lại” Nguyên nhân thì có rất nhiều, bởi lịch sử luôn biến thiên do những cuộc tranh giành quyền lực của nhiều thế lực, nhiều tộc người. Tuy nhiên, có hai nguyên nhân cơ bản: Một là: Sở dĩ Việt Nam còn tồn tại được là vì Việt Nam không tham một tấc đất của Trung Quốc. Cái gì của Việt Nam thì Việt Nam phải giữ và giữ bằng mọi giá, kể cả vùng biển và hải đảo thuộc chủ quyền đã tuyên bố. Cái gì không thuộc về Việt Nam thì Việt Nam không màng đến. Những quốc gia kể trên sở dĩ diệt vong hoặc bị Hán hóa, bị nô dịch bởi nền văn hóa Trung Hoa là do bề dày văn hóa của họ không đủ để đối địch lại với nền văn hóa Trung Hoa, không định hình được bản sắc văn hóa của riêng mình một cách vững chắc (trường hợp Mông Cổ), hoặc tham lam những thứ không phải của mình. Mặt khác, chính bản thân người Trung Quốc cũng từng nhiều lần phải trả giá khi tham lam những thứ không phải của mình mà Việt Nam là một ví dụ điển hình. Hai là: Những dân tộc đã mất một phần lãnh thổ, dân cư hay bị diệt vong bởi tay Trung Quốc đều là những dân tộc mất đoàn kết. Trong lịch sử của mình, người Việt Nam không ít lần bị chia rẽ, mất đoàn kết nên bị Trung Quốc hoặc cường quốc khác đô hộ. Người Việt thấu hiểu bài học đoàn kết dân tộc hơn ai hết. Về hình thức chính trị, sự đoàn kết dân tộc của người Việt tập trung xung quanh chính quyền trung ương, đó là hạt nhân thứ nhất. Nhưng người Việt còn có hạt nhân thứ hai cũng tạo nên sự đoàn kết không kém phần rắn chắc. Đó là mô hình xã hội “cộng đồng làng” với nền “dân chủ bình đẳng làng xã”.

3- “Cộng đồng làng”, “pháo đài phòng thủ” bất khả chiến bại của dân tộc Việt Nam.
Nhiều nhà nghiên cứu sử học, xã hội học Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Anh và nhiều nước phương Tây đã đặt câu hỏi rằng: Tại sao trong suốt 1.000 năm Bắc thuộc, người Việt Nam không bị Hán hóa như nhiều tộc người khác ? Tại sao trong suốt hơn 100 năm đô hộ, người Pháp vẫn không thể Âu hóa được người Việt Nam. Trong suốt nhiều chục năm, họ vẫn đi tìm lời giải đáp.

Mô hình xã hội Việt Nam từ thời cổ đại đến nay có một cấu trúc khá đặc sắc hiếm thấy xuất hiện ở các quốc gia dân tộc khác. Đó là “Cộng đồng làng nghề” (bao gồm cả nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp .v.v…). Ở Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Bắc Á, mô hình xã hội cơ sở chủ yếu dựa trên điền trang thái ấp. Mô hình này cũng tồn tại khá phổ biến ở nước Nga và nhiều nước Châu Âu. Ở Việt Nam, lịch sử cho thấy mô hình “Điền trang thái ấp” tuy được người Trung Quốc du nhập vào Việt Nam và có thời kỳ được các triều Lý, Trần sử dụng khá phổ biến nhưng nhìn chung, người Việt Nam không chấp nhận mô hình này. Điểm khác biệt rõ rệt nhất giữa mô hình “Cộng đồng làng” và mô hình “Điền trang thái ấp” chính là sự phân tầng xã hội diễn ra rất hạn chế, làm cho nó có vẻ giống với mô hình “thị tộc” và “bộ lạc” nhưng lại không phải là “thị tộc” và “bộ lạc”.

Trở lại lịch sử, người ta thấy thời Văn Lang – Âu Lạc có một từ khá quen thuộc là “chạ” (chung chạ). Dưới thời An Dương Vương, “chạ” là mô hình tổ chức xã hội cơ sở khá phổ biến xung quanh Kinh thành Cổ Loa. Cho đến nay, nhiều nơi thuộc đồng bằng và trung du Bắc Bộ vẫn còn lưu giữ được tục “kết chạ”. Xem xét mô hình “chạ”, người ta thấy nó chính là di duệ của chế độ thị tộc thời nguyên thủy trước khi tiến triển thành một mô hình xã hội lớn hơn là bộ lạc. Ở Việt Nam, thể chế bộ lạc đã ra đời nhưng thị tộc vẫn còn đó. Người ta cũng tìm thấy dấu tích của chế độ mẫu hệ thông qua các cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của Hai Bà Trưng với những đội quân mà phái nữ chiếm da số, còn hầu hết tướng lĩnh là nữ. Có nhiều cách lý giải khác nhau. Có giả thuyết rằng đó là do người Hán đã áp dụng chính sách sát phu, hiếp phụ đối với người Việt. Có giả thiết rằng đó là do sự vùng lên đòi lại nữ quyền, lập lại chế độ mẫu hệ.v.v… Nhưng trong những cách lý giải ấy, có một khả năng là chế độ thị tộc mẫu hệ vẫn còn di duệ ở Việt Nam cho đến đầu công nguyên.

Có một điều chắc chắn là tổ chức xã hội kiểu “làng” ở Việt Nam là một kiểu thị tộc thoái hóa. Thị tộc ở Việt Nam không biến mất hẳn như ở hầu hết các tộc người khác mà nó chỉ tích hợp vào nó những yếu tố hiện đại hơn và dần chuyển hóa thành làng. Trong đó, chế độ phụ hệ được du nhập từ Trung Quốc dần dần thay thế cho chế độ mẫu hệ. Một số yếu tố hiện đại về phong tục, tập quán cũng được tích hợp trên cơ sở trao đổi văn hóa giữa các làng với nhau, giữa làng với chính quyền trung ương. Đó là cái cách người Việt Nam tạo dựng mô hình xã hội cho mình mà không phải rập khuôn từ bất kỳ ai.

Trong suốt chiều dài hàng nghìn năm lịch sử, khi đất nước bị phong kiến phương Bắc đô hộ, chính quyền nằm trong tay ngoại bang nhưng làng thì vẫn là của người Việt Nam. Ở đây có luật lệ riêng (hương ước), có đội quân vũ trang riêng (tuần đinh), có cơ cấu tổ chức quyền lực riêng (việc làng), có bộ máy điều hành riêng (lý trưởng và các chức dịch), có tín ngưỡng riêng (thành hoàng làng), có cơ sở sản xuất (ruộng làng), có công quỹ tài chính riêng (khoán lệ), có hoạt động xã hội cộng đồng riêng (hội làng), có cơ sở thờ tự, hoạt động chính trị, văn hóa xã hội riêng (đình làng), có cương vực biên giới riêng (lũy tre làng), có thị trường riêng (chợ làng). Trong tâm thức người Việt cổ và cho đến tận ngày nay, có nhiều cơ sở vật chất công cộng vẫn được gắn liền với làng, xóm: đường làng ngõ xóm, giếng làng, đình làng, ao làng, trống làng, lũy tre làng .v.v…

Làng Việt có tổ chức xã hội rất khác với nhiều nước. Nếu như ở Trung Quốc, Nga, Châu Âu và nhiều nơi khác, các quan lại, chức sắc của chính quyền trung ương khi nghỉ hưu thường rất được trọng vọng và có địa vị xã hội cao trong cộng đồng dân cư thì ở Việt Nam, quan lại, chức sắc bỏ mũ từ quan về làng cũng chỉ như dân thường. Có chăng là được các chức dịch trong làng tôn trọng, được ngồi chiếu trên trong việc làng và được tham vấn ý kiến để hành xử việc trong làng sao cho “phải đạo”. Các chức dịch của làng không phải là công chức chuyên nghiệp và không hưởng lương. Họ được dân làng bầu ra. Họ vẫn phải lao động để có thu nhập và được hưởng một khoản phụ thu từ “ruộng làng” chia theo chế độ “tỉnh điền”. Một thửa ruộng của một hộ chia làm 9 phần, chủ hộ hưởng 8 phần, phần còn lại nộp cho làng làm quỹ.

Hệ thống cai trị của phong kiến Trung Quốc suốt 1.000 năm cũng như thực dân Pháp suốt 100 năm cũng không thể xóa được làng với tư cách là một thiết chế xã hội cơ sở. Một đế quốc thực dân tư bản phát triển hiện đại như Pháp vẫn phải sử dụng mô hình thiết chế làng, tổng, huyện, phủ, tỉnh, kỳ trong cơ cấu bố trí hệ thống chính trị thuộc địa ở Việt Nam, trong đó, làng vẫn là cơ sở. Thời Pháp thuộc, mặc dù mất đi hầu hết vị trí độc lập về chính trị và một số yếu tố khác nhưng về văn hóa nói chung, Làng Việt vẫn là Làng Việt. Điều đó chứng tỏ văn hóa là cái còn tồn tại rất lâu sau khi tất cả đã mất đi.

Ngay cả chính quyền phong kiến Việt Nam độc lập trong suốt 1.000 năm từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX cũng vẫn phải thừa nhận một cách không chính thức tính “tự trị tương đối” của làng. “Phép vua” thì vẫn phải thi hành như “lệ làng” thì không thể bỏ. Điều cần thiết là đạt được sự hài hòa giữa “luật” và “lệ” để “vẹn cả đôi đường”. Chỉ trong những trường hợp cực chẳng đã, “làng” mới nổi dậy chống lại “triều đình”. Còn trong phần lớn thời gian lịch sử của dân tộc Việt, “làng” tồn tại cùng “nước” trong một thể chế chính trị thống nhất có tính biện chứng. Nó thống nhất đến mức Phan Bội Châu đã nhận định: “Làng là cái nước nhỏ, nước là cái làng to”.

Chính nhờ sự khép kín tương đối trong mô hình tổ chức xã hội cơ sở mà Làng Việt vẫn có thể tồn tại độc lập tương đối với chính quyền trung ương, bất kể là ngoại bang hay nội địa. Sự tồn tại tương đối độc lập ấy mang theo nền văn hóa Việt mà căn bản là “văn hóa làng” đi xuyên qua hai thiên niên kỷ, làm cho văn hóa Việt tồn tại đến tận ngày nay với những bản sắc vốn có và cả những bản sắc du nhập được Việt hóa. Cương vực của làng, cái lũy tre ấy vẫn tồn tại từ bao đời nay và trở thành nỗi khiếp đảm của quân xâm lược đến từ bất kỳ đâu.

Tuy nhiên, chính tính chất khép kín tương đối ấy của Làng đã tạo nên một sự thách thức không nhỏ trong quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tạo ra sức ỳ và tính bảo thủ, cố hữu cản trở con đường phát triển của người Việt. Ngược lại, “Văn hóa làng Việt” cũng đứng trước những thách thức, những nguy cơ mất đi những nét tốt đẹp truyền thống của mình, bị mặt trái của cơ chế thị trường và văn hóa ngoại lai làm cho méo mó, biến dạng, trở thành có hại.

Và một câu hỏi tất yếu được đặt ra: Làm sao để bảo tồn những di sản văn hóa tốt đẹp của “Cộng đồng làng” và triệt tiêu những ảnh hưởng tiêu cực của nó trong quá trình phái triển ? Câu hỏi này cho đến nay vẫn chưa có những kiến giải thỏa đáng.

Văn hóa Việt Nam chính là văn hóa làng xã, gia tộc của ta khác với dòng tộc của Trung Quốc. Ông cha ta đã chọn lọc sáng tạo nên không bị Trung Quốc đồng hóa được.



Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

VIỆT NAM - TIẾN LÊN KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG

Bước vào năm mới 2019 với những kết quả ấn tượng, Việt Nam cũng đứng trước mục tiêu hiện thực hóa khát vọng thịnh vượng vào năm 2045 – dịp kỷ niệm 100 năm độc lập, một mục tiêu đòi hỏi phát huy mạnh mẽ tinh thần dân tộc và đổi mới sáng tạo.
Chúng ta đón năm mới 2019 sau một năm có thể nói là trọn vẹn trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, với toàn bộ 12 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch, trong đó nổi bật là tăng trưởng vượt kế hoạch đề ra và đạt mức cao nhất trong hơn một thập kỷ. Đáng mừng hơn, chất lượng tăng trưởng tiếp tục được cải thiện và Việt Nam vẫn duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô.
Nhiều ý kiến đã coi đây là những kỳ tích trong bối cảnh đầu nhiệm kỳ này, đất nước đứng trước những “bề bộn khó khăn” và tình hình thế giới đang biến động mạnh mẽ. Nhìn về tổng thể, thế và lực của ta đã khác trước, đất nước đang rất khởi sắc, vận nước đang lên.
Cùng với đó, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực cũng có những chuyển biến tích cực, rõ rệt. Nhiệm vụ này Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo, làm nhiều lần, làm quyết liệt từ nhiều năm nay, nhưng thời gian gần đây càng được đẩy mạnh hơn bao giờ hết, được chỉ đạo thực hiện ráo riết, quyết liệt.
Những kết quả đạt được đã tạo đà và động lực mới, khí thế mới cho việc hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra cho năm 2019 và 5 năm 2016-2020, giúp việc thực hiện các mục tiêu kế hoạch 5 năm trở nên hoàn toàn khả thi, đồng thời tiếp tục củng cố niềm tin xã hội, niềm tin thị trường, không khí phấn khởi, tin tưởng tiếp tục lan rộng khắp cả nước.
Những thành tựu này đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, sự giám sát của Quốc hội, sự chỉ đạo, điều hành chủ động, quyết liệt, đồng bộ, sáng tạo của Chính phủ, cùng sự nỗ lực, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước.
Nhưng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực và vị thế như ngày nay, chúng ta vui mừng với những thành tựu, kết quả to lớn nhưng tuyệt nhiên không được chủ quan, tự mãn, không được quá say sưa với thắng lợi, ngủ quên trên vòng nguyệt quế. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng từng nhấn mạnh với các bộ, ngành, địa phương, mức thu nhập bình quân đầu người hơn 2.000 USD không có gì quá phấn khởi, “phải là nỗi buồn của những người lãnh đạo khi thu nhập bình quân người dân thấp như thế”.
Ngân hàng Thế giới đã tổng kết và chỉ ra rằng trong hơn nửa thế kỷ qua, số các quốc gia thoát được đói nghèo để đạt mức thu nhập trung bình là không nhiều, và số các quốc gia vượt qua bẫy thu nhập trung bình để gia nhập nhóm các quốc gia phát triển còn ít hơn nữa. Việt Nam đang ở vào giai đoạn chuyển đổi đầy khó khăn, thách thức này
Trong bối cảnh đó, việc triển khai các nhiệm vụ năm 2019 có ý nghĩa hết sức quan trọng. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh tinh thần “bứt phá” trong năm 2019 - năm có vai trò bản lề, nước rút cho việc thực hiện Kế hoạch 5 năm 2016-2020 và cả Chiến lược 10 năm 2011-2020. Năm 2019 cũng là năm rất đặc biệt - Năm kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tại nhiều sự kiện gần đây, Người đứng đầu Chính phủ đã đề cập tới mục tiêu, tầm nhìn dài hạn hơn. Theo đó, đến năm 2045- mốc lịch sử 100 năm nước nhà được độc lập (1945 - 2045), quy mô GDP nước ta ước tính sẽ đạt mức khoảng 2.500 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người khoảng gần 18.000 USD. Tại một hội nghị đầu năm 2018, Thủ tướng cũng đã đặt vấn đề “Việt Nam phấn đấu trở thành một con hổ kinh tế mới, tại sao lại không”.
Để hiện thực hóa những mục tiêu này, bên cạnh những giải pháp cụ thể, Thủ tướng nhiều lần nhấn mạnh vai trò cực kỳ quan trọng của khát vọng vươn lên hùng cường, thịnh vượng, của tinh thần dân tộc. Những yếu tố này sẽ mãi mãi là sức mạnh hạt nhân của chúng ta, là yếu tố quyết định ý Đảng, lòng dân, là chất keo làm nên tinh thần đoàn kết, nhất trí một lòng, là ý chí của “Con Lạc cháu Hồng” đã từng tạo ra biết bao kỳ tích lịch sử và sẽ tiếp tục tạo ra những kỳ tích mới cho chặng đường phát triển phía trước.
Cùng với đó, theo Thủ tướng, trong bối cảnh thế giới biến động khó lường và làn sóng công nghệ đang lan rộng toàn cầu, trở thành trào lưu cách mạng, yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra càng đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức, cách nghĩ, cách làm. Để có xung lực mới cho phát triển, không thể đứng ngoài cuộc và cũng không được phép đi sau trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0.
Nhìn lại thực tế Việt Nam, có thể thấy khát vọng hùng cường, thịnh vượng là khát khao cháy bỏng của người dân và năng lượng, tiềm năng phát triển là rất lớn. Chỉ cần nhìn vào tinh thần cổ vũ của người dân trước các trận đấu của đội tuyển bóng đá Việt Nam là có thể thấy được phần nào tinh thần, khát vọng vươn lên ấy. Và rõ ràng, tinh thần ấy không chỉ trong bóng đá.
Trong bối cảnh mới, cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia sẽ ngày càng quyết liệt và khắc nghiệt. Thực tiễn đang đòi hỏi tinh thần dám nghĩ, dám làm, có tinh thần chủ động tiến công, dám vượt ra khỏi những tư duy, những lĩnh vực quen thuộc để có suy nghĩ và hành động vượt tầm. Chỉ khi mọi tiềm năng được khai phá, mọi sự sáng tạo được bùng nổ, đất nước ta nhất định sẽ tự tin bước vào chặng đường mới, nắm bắt được những cơ hội lịch sử đang mở ra phía trước.
---
[THÔNG TIN CHÍNH PHỦ]

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2018

10 SỰ KIỆN NỔI BẬT CỦA VIỆT NAM NĂM 2018 DO THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM BÌNH CHỌN

1. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được bầu giữ chức vụ Chủ tịch nước
Ngày 23-10-2018, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIV đã bầu Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giữ chức vụ Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2016-2021, với 476 trong số 477 đại biểu tán thành (tỷ lệ 99,79%). Trước đó, tại Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII đã thống nhất giới thiệu Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để Quốc hội bầu giữ chức vụ Chủ tịch nước.

2. Hoàn thành toàn diện 12-12 chỉ tiêu kinh tế - xã hội
Việt Nam tiếp tục hoàn thành và hoàn thành vượt mức 12-12 chỉ tiêu kinh tế-xã hội do Quốc hội đề ra. GDP dự kiến tăng trưởng hơn 6,8%; xuất siêu đạt mức kỷ lục hơn 6,89 tỷ USD; giải ngân vốn đầu tư nước ngoài hơn 19 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay; 132.000 doanh nghiệp thành lập mới; cả nước đón gần 15,6 triệu lượt khách quốc tế... Đây là năm thứ ba liên tiếp lạm phát được kiểm soát dưới mức 4%. Các chính sách tài khóa, tiền tệ được điều hành linh hoạt, đáp ứng yêu cầu về vốn của nền kinh tế.

3. Quốc hội phê chuẩn Hiệp định CPTPP
Ngày 12-11-2018, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cùng các văn kiện liên quan đã được phê chuẩn tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIV. CPTPP được coi là Hiệp định thương mại tự do lớn thứ ba thế giới hiện nay và sẽ được thực thi từ năm 2019. Hiệp định sẽ giúp mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng, cải cách chính sách theo hướng minh bạch và thông thoáng hơn.

4. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được triển khai quyết liệt từ trung ương đến cơ sở
Nhiều vụ tham nhũng quy mô lớn, gây hậu quả nghiêm trọng trong lĩnh vực dầu khí, ngân hàng, quản lý đất đai, công sản cùng nhiều vụ tiêu cực ở một số ngành, địa phương đã bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và đưa ra ánh sáng. Các đối tượng sai phạm dù là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư, Chủ tịch tỉnh, Bộ trưởng, nguyên Bộ trưởng, tướng lĩnh lực lượng vũ trang hay cán bộ quản lý các cấp…đều bị xử lý, kỷ luật nghiêm minh, làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin trong nhân dân.

5. Ban hành Nghị quyết nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
Nghị quyết 36-NQ-TW được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII ban hành ngày 22-10-2018, với tầm nhìn đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành kinh tế biển có sự phát triển đột phá, đóng góp khoảng 10% GDP cả nước; 28 tỉnh, thành phố ven biển đóng góp 65-70% GDP.

6. Năm thành công nhất trong lịch sử bóng đá Việt Nam
Với những kỳ tích vang dội trên đấu trường khu vực: Vô địch Giải bóng đá Đông Nam Á (AFF Suzuki Cup); Á quân Giải Vô địch bóng đá U23 châu Á; lần đầu tiên vào đến vòng bán kết Đại hội thể thao châu Á (ASIAD), các tuyển thủ bóng đá quốc gia Việt Nam đã khơi dậy niềm tự hào và tinh thần đoàn kết dân tộc. Những thành tích này có được là nhờ một lứa cầu thủ trẻ được đào tạo bài bản và luyện rèn về đạo đức cùng vị huấn luyện viên trưởng tài năng người Hàn Quốc Park Hang Seo.

7. Phát hiện việc gian lận điểm thi trên quy mô lớn
Trong kỳ thi trung học phổ thông quốc gia 2018, việc gian lận điểm thi đã bị phát hiện tại các hội đồng thi: Sơn La, Hà Giang, Hòa Bình…gây rúng động dư luận. Cơ quan an ninh điều tra đã vào cuộc, khởi tố, bắt tạm giam một số đối tượng liên quan để điều tra làm rõ và xử lý theo luật định. Bộ Giáo dục và Đào tạo sau đó đã tiến hành sửa đổi, hoàn thiện Quy chế thi trung học phổ thông quốc gia.

8. Việt Nam có ngân hàng mô đầu tiên
Ngày 16-10-2018, Ngân hàng mô đầu tiên của Việt Nam đã khai trương tại Bệnh viện Việt-Đức. Đây là địa chỉ tiếp nhận, bảo quản, lưu trữ, vận chuyển, cung ứng, trao đổi mô, nhằm mục đích khám chữa bệnh, đào tạo, nghiên cứu khoa học. Ngày 24-12, Bệnh viện Việt-Đức và Bệnh viện Nhi đồng 2 chính thức thông báo đã ghép thành công 6 tạng (1 tim, 1 gan, 2 phổi, 2 thận) cho 5 bệnh nhân từ một người cho chết não. Việt Nam đã làm chủ được các kỹ thuật ghép tạng quan trọng và thường gặp trong lâm sàng, như thận, tim, gan, tụy, phổi, tiến hành hơn 1.500 ca ghép mỗi năm với tỷ lệ thành công tương đương nhiều nước tiên tiến trên thế giới.

9. Xây dựng thương hiệu Việt chất lượng cao
Việc VinFast có mặt tại Paris Motor Show 2018-Triển lãm ôtô danh giá nhất thế giới-đã khẳng định vị thế của doanh nghiệp Việt và giúp điền tên Việt Nam lên bản đồ công nghiệp chế tạo ôtô toàn cầu. Tại sự kiện ra mắt xe VinFast ở Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phát động phong trào “Hàng Việt Nam chinh phục người Việt Nam,” thể hiện khát vọng xây dựng hệ thống thương hiệu Việt chất lượng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

10. Bệnh viện dã chiến đầu tiên của Việt Nam tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc
Ngày 1-10, Việt Nam triển khai một đơn vị độc lập-Bệnh viện dã chiến cấp 2, được phiên chế 63 thành viên–tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan. Trước đó, 29 lượt sỹ quan của Việt Nam cũng đã thực thi các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình tại Cộng hòa Trung Phi và Nam Sudan. Việc làm này thể hiện sự chủ động và trách nhiệm tích cực của Việt Nam trong các hoạt động của Liên hợp quốc.

Nguồn: TTXVN