Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân vật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2019

VƯƠN LÊN SAU LẦM LỖI

Chưa đến 30 tuổi, Trần Hữu Quân (thôn Lập Thành, xã Ia Yok, huyện Ia Grai, Gia Lai) đã phải 2 lần vào tù vì tội “Trộm cắp tài sản” và “Gây rối trật tự công cộng”. Sau khi ra tù, được sự động viên, giúp đỡ của chính quyền địa phương và bà con làng xóm, anh đã vượt qua mặc cảm, quyết tâm đoạn tuyệt với quá khứ lầm lỗi để làm lại cuộc đời.


Chúng tôi đến nhà đúng lúc anh Quân đang kéo ống để tưới cho rẫy cà phê của gia đình. Rửa tay rót nước mời khách rồi anh kể cho chúng tôi về quãng đời lầm lỗi của mình. Câu chuyện đôi lúc bị nghẹn lại, dường như anh vẫn chưa hết ân hận với những lỗi lầm của mình trong quá khứ. Quân kể, năm 2005, khi vừa bước sang tuổi 22, anh bị kết án 3 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù, mặc dù được chính quyền địa phương, gia đình, bà con lối xóm hết lòng động viên, giúp đỡ nhưng Quân vẫn chứng nào tật nấy. Năm 2010, Quân tiếp tục bị Công an bắt rồi bị Tòa án tuyên phạt 2 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Vào tù lần thứ 2, Quân mới bắt đầu ân hận về những tội lỗi mà mình đã gây ra. Quyết tâm phấn đấu cải tạo, anh đã được giảm án và ra tù trước thời hạn 5 tháng. Trở về địa phương với 2 tiền án, con đường làm lại cuộc đời của Quân không đơn giản. Nhưng nhờ sự động viên, giúp đỡ của chính quyền địa phương, gia đình, làng xóm, anh dần hòa nhập với cuộc sống. Nhất là sau khi kết hôn, rồi sinh con, anh càng quyết tâm làm lại cuộc đời. “Trước đây, tôi cũng có nhiều lỗi lầm. Nhưng giờ tôi đã suy nghĩ lại và tính toán đường làm ăn để nuôi gia đình, vợ con”.

Quyết tâm làm lại cuộc đời, sẵn đất vườn, rẫy của gia đình, anh bắt tay vào phát triển kinh tế. Hiện tại, anh đang trồng 1,5 ha cà phê, 500 trụ hồ tiêu xen canh bơ, sầu riêng. Nhờ được chăm sóc đúng kỹ thuật nên vườn cây luôn đạt năng suất cao. Nguồn thu nhập hàng năm của gia đình đạt trên 200 triệu đồng. Với mức thu nhập ổn định này, gia đình anh đã xây được ngôi nhà khá khang trang.

Là người nắm rất rõ quá khứ lầm lỗi và cả chặng đường vươn lên sau này của anh Quân, ông Bùi Văn Sáng-Trưởng Công an xã Ia Yok-cho biết: Anh Quân trước đây có lầm lỡ và đã bị pháp luật xử lý. Khi ra tù về địa phương, được sự quan tâm, động viên của chính quyền, anh đã dần thay đổi. Ngoài ra, anh cũng được hỗ trợ vay vốn để phát triển kinh tế. Hiện tại, kinh tế gia đình anh khá ổn định. Bà con xung quanh cũng quý mến anh.

Minh Thoan – Phương Lộc

Nguồn: Baogialai.com.vn

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019

LIỆT SĨ, ANH HÙNG LLVTND, THIẾU TƯỚNG KIM TUẤN

Thiếu tướng Kim Tuấn có tên thật là Nguyễn Công Tiến, sinh ngày 26/10/1926 tại xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, Hà Nội và là vị tướng duy nhất và cao cấp nhất của quân đội Việt Nam hy sinh trong chiến đấu, ở chiến trường Campuchia giúp nước bạn thoát họa diệt chủng.
Nguyễn Công Tiến là một thanh niên giàu lòng yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng, tham gia phong trào Việt Minh khi còn là học sinh (năm 1945), đến năm 1946 thì nhập ngũ vào Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, khóa I (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1), từ đó ông mang tên Kim Tuấn. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông liên tục chiến đấu ở khu vực đồng bằng Liên khu 3.
Ảnh Thiếu tướng Kim Tuấn với Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, ông giữ nhiều chức vụ từ trung đội trưởng, đại đội trưởng, … và đến năm 1975, ông giữ chức tư lệnh sư đoàn 320, tư lệnh phó của ông lúc này là đại tá Nguyễn Quốc Thước sau này là trung tướng Nguyễn Quốc Thước.
Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ông chiến đấu trên nhiều mặt trận ở miền Nam. Được rèn luyện, trưởng thành, kinh qua các chức vụ chỉ huy, tướng Kim Tuấn luôn nêu cao tinh thần nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh, chỉ thị, ý chí tiến công, tác phong xông xáo, tỉ mỉ, cụ thể và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Tên tuổi của ông gắn liền với những thời điểm quyết định nhất, những chiến dịch quyết định nhất của Sư đoàn 320 như chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, chiến dịch Xuân hè 1972, đặc biệt là chiến dịch Tây Nguyên tháng 3 năm 1975.

Cuối năm 1978, ông nắm chức tư lệnh Quân Đoàn 3 và là 1 trong 3 mũi nhọn đánh sang Campuchia nhằm tiêu diệt chế độ diệt chủng Pol Pot. Tại mặt trận này, các đơn vị của ông đã tiêu diệt nhiều đơn vị Khmer đỏ và truy kích đến tận khu vực Battambang giáp Thái Lan.

Ngày 16/3/1979, ông đích thân đi thị sát trận địa. Đoàn xe bao gồm 1 chiếc xe thiết giáp M113 đi đầu, tiếp theo là 1 số xe Jeep, Uoat, .. và 1 chiếc M113 đi cuối. Khi đến khu vực núi Thơm thuộc Sisophon thì bị quân Khmer đỏ phục kích. Theo 1 số tài liệu thì xe của ông bị trúng đạn của súng chống tăng B40. Nhưng 1 số người kể lại thì xe bị trúng đạn súng phóng lựu M79. Điều này có vẻ hợp lý hơn vì khi đó, ông vẫn còn sống và được đưa lên xe M113 rút về, sau đó trực thăng cấp cứu đã đưa ngay ông về sân bay Pochentong, sau đó bay tiếp về sân bay Tân Sơn Nhất. Tuy nhiên, ông đã không qua khỏi.

Trung tướng Khiếu Anh Lân khi đó là phụ tá ông nghẹn ngào, xúc động nhớ lại : “Trên chiếc trực thăng UH, anh Tuấn tỉnh lại. Mình đã mừng, anh choàng tay ôm mình, giọng thều thào: Anh em mình có ai việc gì không? Mình giấu biệt chuyện cậu Hoa, cậu Quân hy sinh và trả lời: Không ai việc gì đâu, anh cứ yên tâm điều trị”. Rồi ông nói trong cơn thở gấp: “Lần này, có về Hà Nội gắng rẽ qua chỗ bà ấy nhà mình. Nói với bà ấy dạy dỗ các con thành người, xin lỗi bà ấy và các cháu hộ mình. Cho mình… vĩnh… biệt”.

Khi nhiệm vụ tại Campuchia kết thúc, đại tướng Văn Tiến Dũng đã đánh giá về Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) dưới quyền lãnh đạo của thiếu tướng Kim Tuấn như sau: “Binh đoàn Tây Nguyên đi đến đâu được bạn tin dân mến, kẻ thù khiếp sợ và ta thì trưởng thành”, và “hoàn thành một nhiệm vụ không đơn giản nhưng rất vẻ vang”.

Thiếu tướng Kim Tuấn được đánh giá là 1 tướng trẻ, tài năng, nhiệt huyết và mưu lược. Nếu ông còn sống, chắc chắn sẽ lập thêm nhiều chiến công trong các cuộc chiến biên giới phía Bắc sau này. Với những thành tích trong công tác, ông đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng Nhì, 3 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba.

Ngày 20/12/1979, Thiếu tướng, Liệt sĩ Nguyễn Kim Tuấn được Chủ tịch nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương Quân công hạng Nhất.

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

ANH HÙNG, ĐẠI TÁ TÌNH BÁO ĐINH THỊ VÂN

Một người phụ nữ mảnh khảnh, răng đen, ăn trầu, quanh năm mặc áo bà ba, không qua một lớp đào tạo nào về nghiệp vụ tình báo nhưng bà đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Đó chính là nữ tình báo, Anh hùng, Đại tá Đinh Thị Vân - một tấm gương đáng để các thế hệ hôm nay tự hào, học tập và noi theo.
Bà cùng những tên tuổi đã trở thành huyền thoại như: Thiếu tướng Vũ Xuân Nhã, Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn, Đại tá Phạm Ngọc Thảo, Đại tá Lê Hữu Thúy… góp phần làm nên chiến thắng mùa xuân 30/4/1975, giành lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc.

Căn nhà nhỏ trên gác 2 ở số 8, Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội là nơi nữ tình báo Đinh Thị Vân sống những năm cuối đời. Sau đó được giao lại cho người cháu Đinh Văn Đạt, năm nay đã ngoài 60 tuổi, làm nơi tưởng niệm nữ tình báo Anh hùng.

Hy sinh hạnh phúc riêng cưới vợ cho chồng!


Đại tá Đinh Thị Vân (SN 1916), sinh ra ở làng Đông An, xã Xuân Thành, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Tên thật là Đinh Thị Mậu, xuất thân trong một gia đình nho học, có truyền thống yêu nước. Ngay từ nhỏ bà đã ý thức được tinh thần đấu tranh chống thực dân đế quốc vì độc lập dân tộc. Được các anh trai là Đinh Lai Hạp và Đinh Thúc Dự, những đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương ngày ấy giác ngộ, động viên tham gia hoạt động cách mạng, làm giao thông liên lạc, cất giữ tài liệu bí mật của Đảng và tham gia tổ chức nhóm “ái hữu tương tế”, nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ cách mạng.

Tháng 6/1954, Trung ương quyết định điều động Đinh Thị Vân lên công tác tại Cục Nghiên cứu Tổng tham mưu - Bộ Quốc Phòng. Bà được giao nhiệm vụ về Hà Nội hoạt động bí mật trong lòng địch, gây dựng cơ sở, tìm hiểu những ý đồ chiến lược của địch. Tuy nhiên, do hoàn cảnh gia đình mẹ già yếu, chồng bị đau ốm nhưng vì nhiệm vụ đặc biệt lại phải xa quê hương, xa những người thân yêu nhất để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và quân đội đã tin tưởng giao phó. Mặc dù nghĩa tình sâu nặng nhưng bà đã chủ động đề nghị với lãnh đạo đồng thời cưới vợ cho chồng chăm sóc, lo toan việc nhà tạo điều kiện để mình hoàn thành nhiệm vụ.

Chỉ một thời gian ngắn bà đã xây dựng được một số cơ sở tin cậy ở nội thành Hà Nội. Chấp hành chỉ thị, bà Vân tìm cách lọt qua mạng lưới kiểm soát dày đặc của địch trên đường số 5 để xuống Hải Phòng. Nhờ vào các mối quan hệ và công tác vận động, giác ngộ quần chúng chị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cung cấp nhiều tin tức quan trọng để cấp trên chỉ đạo thắng lợi và giành thế chủ động trong thời gian “300 ngày tập kết”.

Hiệp định Geneve được ký kết, đất nước bị chia cắt thành hai miền, lấy vĩ tuyến 17 là ranh giới tạm thời. Tháng 10/1954, trước ngày quân ta kéo về giải phóng Thủ đô, bà nhận lệnh bí mật vào Nam hoạt động. Để tạo vỏ bọc hợp pháp cho việc di cư vào Nam và phù hợp với hoạt động sau này, bà đã đóng vai “người đi buôn vào Nam kiếm sống”. Từ đó, ngày ngày “dì Sáu di cư” trĩu nặng trên đôi vai gầy gánh guốc đi bán rong khắp ngõ phố Sài Gòn. Từ chợ Bàn Cờ, chợ An Đông, đến chợ ông Tạ, chợ Cầu Bông, từ ngã tư Hàng Xanh, vòng lên chợ Cầu Muối…

Để hỗ trợ cho hoạt động của bà, cấp trên quyết định thông báo: “Đinh Thị Vân đã phản Đảng, bỏ nhiệm vụ chạy trốn vào Nam. Tuyên án tử hình vắng mặt”. Tin dữ lan truyền quá nhanh, anh em đồng chí, họ hàng, quê hương… đều bàng hoàng, sửng sốt. Thế nhưng đã đánh hỏa mù vào cơ quan mật vụ của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bà hoạt động bí mật.


Người nữ anh hùng.

Do sơ suất của một cơ sở trong lưới, bà Vân đã bị địch nghi ngờ và bắt giam. Cho dù chúng dùng mọi thủ đoạn tra tấn rất dã man, nhưng không moi được bất cứ tin tức gì ở bà, chúng đưa bà đi biệt giam ở Vân Đồn, trại Lê Văn Duyệt, Sở Thú. Sau năm năm tù đày qua các nhà lao, nếm đủ mọi cực hình tra tấn dã man về thể xác, uy hiếp khủng bố về tinh thần nhưng với dũng khí phi thường của người Cộng sản, bà Đinh Thị Vân đã vượt qua tất cả, tuyệt đối trung thành với Đảng, với cách mạng, bảo vệ trọn vẹn mạng lưới tình báo do bà phụ trách.

Phát huy đà thắng lợi của hai mùa khô, cục diện trên toàn miền Nam thay đổi có lợi cho ta. Trung ương quyết định: “Chuyển cuộc đấu tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới - Thời kỳ giành thắng lợi quyết định”. Chủ trương của ta được thực hiện bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mà tình báo gọi là kế hoạch “Vụ Mùa”. Bà trực tiếp hướng dẫn việc chuẩn bị “Vụ mùa’ ở Sài Gòn, chuẩn bị giao liên dẫn đường cho lực lượng ở bên ngoài vào. Tất cả tin tức đều đã được mạng lưới của bà kịp thời báo cáo ra Bộ chỉ huy chiến dịch kèm theo những ý kiến phân tích xác đáng. Mọi kế hoạch đều được tuyệt đối giữ bí mật tới mức khi “Vụ mùa” đã triển khai mà địch vẫn không hề hay biết.

Địch trở tay không kịp, hoang mang lo sợ, máy bay bay rối loạn trên bầu trời Sài Gòn, xe nha binh chạy đâm bừa vào nhau nhốn nháo. Trong thời điểm ấy, bà Đinh Thị Vân vẫn bình tĩnh chỉ huy các chiến sỹ trong lưới của mình, âm thầm làm nhiệm vụ. Vì vậy, sau những ngày vang dội của cuộc tổng tiên công Mậu Thân, Mỹ Ngụy rất hoang mang lo sợ nên càng lùng sục, bắt bớ và thẳng tay đàn áp dã man, nhưng lưới tình báo do bà Vân phụ trách hóa trang giấu kín mình trong từng vỏ bọc khác nhau và hàng ngày vẫn công khai hoạt động giữa vòng vây của cảnh sát và mật vụ Sài Gòn.

Tháng 3/1969, do yêu cầu công tác và tình hình sức khỏe của bà Vân bị giảm sút sau những năm tháng tù đày bị địch tra tấn dã man và hoạt động vất vả, căng thẳng trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt, nên cấp trên đã quyết định điều bà ra Hà Nội để điều trị và phân công làm công tác huấn luyện.

Với công lao cống hiến cho Đảng và Nhà nước cũng như quân đội, ngày 25/8/1970, bà Đinh Thị Vân được nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Sau gần trọn một đời cống hiến cho cách mạng, bà về nghỉ hưu ở căn gác nhỏ trong ngôi nhà số 8 phố Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Sống thanh bạch, giản dị, khiêm tốn và thật sự trong sạch trong sự yêu mến và ngưỡng mộ của bạn bè, mọi người nơi bà cư trú. Bà Đinh Thị Vân mất ngày 11/12/1995 tại Hà Nội.

Trong lịch sử tình báo quân sự Việt Nam, có một nữ điệp viên chiến lược đã hy sinh hạnh phúc riêng, lấy vợ cho chồng để rồi suốt mấy chục năm âm thầm làm nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm trong lòng địch, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quan trọng với vai một người lao động bình thường, răng đen, ăn trầu, quanh năm mặc áo bà ba… Vì những cống hiến xuất sắc cho Tổ quốc, bà Đinh Thị Vân xứng đáng trở thành huyền thoại trong ngành tình báo Việt Nam.

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2018

LIỆT SĨ, ANH HÙNG LLVTND NGUYỄN VIẾT XUÂN

Nguyễn Viết Xuân sinh năm 1934, dân tộc Kinh, quê xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc-một vùng quê có truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm. 
Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, lên 7 tuổi, Nguyễn Viết Xuân đã phải sống một cuộc đời đi ở kéo dài suốt 10 năm. Khi vừa tròn 18 tuổi, anh đã dũng cảm vượt vùng tạm chiến ra vùng tự do, xin đi bộ đội. Nhập ngũ tháng 11 năm 1952, lúc đầu, anh làm chiến sỹ trinh sát, rồi tiểu đội trưởng trinh sát, trung đội trưởng pháo cao xạ, sau làm chính trị viên đại đội. Bất kỳ ở cương vị nào, Nguyễn Viết Xuân cũng luôn nêu cao quyết tâm chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, gương mẫu, xung phong đi đầu, cùng đồng đội hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, anh đã cùng đồng đội dũng cảm chiến đấu, không ngại hy sinh, gian khổ, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch, giải phóng miền Bắc, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta, đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng miền Bắc theo con đường xã hội chủ nghĩa và tiến hành cách mạng giải phóng miền Nam. 

Hoà bình lập lại ở miền Bắc, đơn vị của Anh làm nhiệm vụ huấn luyện và xây dựng. Bản thân, tuy sức yếu hơn so với đồng đội, song công việc nào được giao, dù nặng nhọc, vất vả, đồng chí vẫn phấn đấu hoàn thành và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. 

Năm 1964 bị thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam, Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc nước ta, Nguyễn Viết Xuân với vai trò là một bí thư chi bộ, một chính trị viên đại đội pháo cao xạ, đã nêu tấm gương sáng ngời về tinh thần kiên quyết tiến công địch. Tiêu biểu là trận đánh địch ngày 18 tháng 11 năm 1964. Trong trận chiến đấu này, Mỹ đã huy động nhiều tốp máy bay đánh phá ác liệt vùng ChaLo thuộc miền tây tỉnh Quảng Bình. Ngay đợt đầu, 3 chiếc máy bay F.100 bất ngờ lao vào trận địa của đại đội Nguyễn Viết Xuân. Loạt đạn đầu tiên của khẩu đội 3 đã đón đánh chiếc đi đầu trong tốp, bọn địch đổi hướng tấn công và tập trung oanh tạc vào Khẩu đội 3. Cả trận địa nổ súng giòn giã, đánh trả quyết liệt lũ cướp trời, một chiếc trong tốp bay của địch trúng đạn bốc cháy, nhưng một chiếc khác đã phóng một loạt tên lửa về phía khẩu đội 3. Bất chấp nguy hiểm, Nguyễn Viết Xuân lao ra khỏi công sự, đứng bên khẩu đội 3 đĩnh đạc tỏ rõ khí phách và hô lớn: “Nhằm thẳng quân thù, bắn!” 

Giữa làn bom đạn địch, tiếng hô dõng dạc của anh vang trên trận địa đã trở thành khẩu hiệu khích lệ mạnh mẽ tinh thần quyết chiến quyết thắng của toàn đơn vị và trên khắp các chiến trường đánh Mỹ. Lưới lửa của đại đội vây chặt lũ máy bay Mỹ và một chiếc nữa lại phải đền tội. Trận chiến đấu vừa tạm dứt, anh đi khắp các khẩu đội để nắm tình hình động viên quyết tâm tiếp tục chiến đấu. Máy bay địch lại ập đến, điên cuồng bắn phá trận địa của đại đội. Một lần nữa cuộc chiến đấu lại diễn ra khốc liệt tiếng máy bay của địch gầm rú trên bầu trời liên tiếp nhả các loạt bom xuống trận địa, anh bị thương nặng, gãy nát đùi bên phải. Nhưng Nguyễn Viết Xuân vẫn thản nhiên bảo y tá cắt nốt phần thịt dính vào chân, bỏ chân đi cho đỡ vướng. Đồng chí nói: “Tôi không việc gì” và căn dặn y tá không được cho mọi người biết. Và vẫn tỉnh táo theo dõi cuộc chiến đấu, biểu dương kịp thời những chiến sĩ và khẩu đội lập công. Sau trận chiến đấu ác liệt, anh chỉ định người thay thế, phân công người chăm sóc các đồng đội bị thương, bình tĩnh bàn giao cộng việc rất tỉ mỉ, rõ ràng. Trở về tuyến sau, vết thương quá nặng, máu ra nhiều, nguyễn Viết Xuân thấy mình khó qua được, anh đã bình tĩnh trao đổi nhiệm vụ với người thay thế, dặn dò cặn kẽ việc chấp hành Nghị quyết của Chi bộ và nêu một số đề nghị về công tác phát triển Đảng, Đoàn và khen thưởng trong đơn vị. Khi hy sinh, anh là thiếu uý, chính trị viên đại đội 3, tiểu đoàn 14 pháo cao xạ, sư đoàn 325, Quân khu 4, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Tấm gương chiến đấu anh dũng quên mình vì nhiệm vụ của đồng chí được cán bộ chiến sĩ trong đơn vị rất cảm phục, cả đại đội 3 đã dấy lên một cao trào thi đua, kiên quyết chiến đấu lập công, trả thù cho người chính trị viên yêu quý của mình. 

Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Nguyễn Viết Xuân đã được nhà nước truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2018

LIỆT SĨ, ANH HÙNG LLVTND TÔ VĨNH DIỆN

Tô Vĩnh Diện (1924-1953), Liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng Vũ Trang Nhân dân, khi hy sinh, anh là Tiểu đội trưởng pháo cao xạ 37 ly thuộc Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367. Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhất. 
Tô Vĩnh Diện sinh trưởng trong một gia đình nghèo ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Lên 8 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ. Suốt 12 năm đi ở, anh phải chịu bao cảnh áp bức bất công. Năm 1946, anh tham gia dân quân ở địa phương. Năm 1949, Tô Vĩnh Diện xung phong đi bộ đội.
Tháng 5 năm 1953, quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ để chuẩn bị đánh lớn. Tô Vĩnh Diện được điều về làm tiểu đội trưởng một đơn vị pháo cao xạ. Trong quá trình hành quân cơ động trên chặng đường hơn 1000 km tới vị trí tập kết để tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, anh luôn luôn gương mẫu làm mọi việc nặng nhọc, động viên giúp đỡ đồng đội kéo pháo tới đích an toàn.
Trong lúc kéo pháo qua những chặng đường khó khăn nguy hiểm, anh xung phong lái pháo để bảo đảm an toàn cho khẩu pháo. Trong lúc kéo pháo cũng như lúc nghỉ dọc đường, Tô Vĩnh Diện luôn luôn nhắc đồng đội chuẩn bị chu đáo và tự mình đi kiểm tra tỉ mỉ đường dây kéo pháo, xem xét từng đoạn đường, từng cái dốc rồi phổ biến cho anh em để tránh những nguy hiểm bất ngờ xảy ra.
Kéo pháo vào đã gian khổ, hy sinh, kéo pháo ra càng gay go ác liệt, anh đã đi sát từng người, động viên giải thích nhiệm vụ, giúp anh em xác định quyết tâm cùng nhau khắc phục khó khăn để đảm bảo thắng lợi.
Qua 5 đêm kéo pháo ra đến dốc Chuối, đường hẹp và cong rất nguy hiểm. Tô Vĩnh Diện cùng đồng đội Ty xung phong lái pháo. Nửa chừng dây tời bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, anh vẫn bình tĩnh giữ càng, lái cho pháo thẳng đường. Nhưng một trong bốn dây kéo pháo lại bị đứt, pháo càng lao nhanh, anh Ty bị hất xuống suối. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Tô Vĩnh Diện hô đồng đội: “Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo” và anh buông tay lái xông lên phía trước, lấy thân mình chèn vào bánh pháo, nhờ đó đơn vị kịp ghìm giữ pháo dừng lại.
Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của đồng chí Tô Vĩnh Diện đã cổ vũ mạnh mẽ toàn đơn vị vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu.

Ngày 7 tháng 5 năm 1955, Tô Vĩnh Diện được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao tặng Huân chương quân công hạng nhì, Huân chương chiến công hạng nhất và được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1956.

Nguồn: trianlietsi.vn

10 SỰ KIỆN NỔI BẬT CỦA VIỆT NAM NĂM 2018 DO THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM BÌNH CHỌN

1. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được bầu giữ chức vụ Chủ tịch nước
Ngày 23-10-2018, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIV đã bầu Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giữ chức vụ Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2016-2021, với 476 trong số 477 đại biểu tán thành (tỷ lệ 99,79%). Trước đó, tại Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII đã thống nhất giới thiệu Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để Quốc hội bầu giữ chức vụ Chủ tịch nước.

2. Hoàn thành toàn diện 12-12 chỉ tiêu kinh tế - xã hội
Việt Nam tiếp tục hoàn thành và hoàn thành vượt mức 12-12 chỉ tiêu kinh tế-xã hội do Quốc hội đề ra. GDP dự kiến tăng trưởng hơn 6,8%; xuất siêu đạt mức kỷ lục hơn 6,89 tỷ USD; giải ngân vốn đầu tư nước ngoài hơn 19 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay; 132.000 doanh nghiệp thành lập mới; cả nước đón gần 15,6 triệu lượt khách quốc tế... Đây là năm thứ ba liên tiếp lạm phát được kiểm soát dưới mức 4%. Các chính sách tài khóa, tiền tệ được điều hành linh hoạt, đáp ứng yêu cầu về vốn của nền kinh tế.

3. Quốc hội phê chuẩn Hiệp định CPTPP
Ngày 12-11-2018, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cùng các văn kiện liên quan đã được phê chuẩn tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIV. CPTPP được coi là Hiệp định thương mại tự do lớn thứ ba thế giới hiện nay và sẽ được thực thi từ năm 2019. Hiệp định sẽ giúp mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng, cải cách chính sách theo hướng minh bạch và thông thoáng hơn.

4. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được triển khai quyết liệt từ trung ương đến cơ sở
Nhiều vụ tham nhũng quy mô lớn, gây hậu quả nghiêm trọng trong lĩnh vực dầu khí, ngân hàng, quản lý đất đai, công sản cùng nhiều vụ tiêu cực ở một số ngành, địa phương đã bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và đưa ra ánh sáng. Các đối tượng sai phạm dù là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư, Chủ tịch tỉnh, Bộ trưởng, nguyên Bộ trưởng, tướng lĩnh lực lượng vũ trang hay cán bộ quản lý các cấp…đều bị xử lý, kỷ luật nghiêm minh, làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin trong nhân dân.

5. Ban hành Nghị quyết nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
Nghị quyết 36-NQ-TW được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII ban hành ngày 22-10-2018, với tầm nhìn đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành kinh tế biển có sự phát triển đột phá, đóng góp khoảng 10% GDP cả nước; 28 tỉnh, thành phố ven biển đóng góp 65-70% GDP.

6. Năm thành công nhất trong lịch sử bóng đá Việt Nam
Với những kỳ tích vang dội trên đấu trường khu vực: Vô địch Giải bóng đá Đông Nam Á (AFF Suzuki Cup); Á quân Giải Vô địch bóng đá U23 châu Á; lần đầu tiên vào đến vòng bán kết Đại hội thể thao châu Á (ASIAD), các tuyển thủ bóng đá quốc gia Việt Nam đã khơi dậy niềm tự hào và tinh thần đoàn kết dân tộc. Những thành tích này có được là nhờ một lứa cầu thủ trẻ được đào tạo bài bản và luyện rèn về đạo đức cùng vị huấn luyện viên trưởng tài năng người Hàn Quốc Park Hang Seo.

7. Phát hiện việc gian lận điểm thi trên quy mô lớn
Trong kỳ thi trung học phổ thông quốc gia 2018, việc gian lận điểm thi đã bị phát hiện tại các hội đồng thi: Sơn La, Hà Giang, Hòa Bình…gây rúng động dư luận. Cơ quan an ninh điều tra đã vào cuộc, khởi tố, bắt tạm giam một số đối tượng liên quan để điều tra làm rõ và xử lý theo luật định. Bộ Giáo dục và Đào tạo sau đó đã tiến hành sửa đổi, hoàn thiện Quy chế thi trung học phổ thông quốc gia.

8. Việt Nam có ngân hàng mô đầu tiên
Ngày 16-10-2018, Ngân hàng mô đầu tiên của Việt Nam đã khai trương tại Bệnh viện Việt-Đức. Đây là địa chỉ tiếp nhận, bảo quản, lưu trữ, vận chuyển, cung ứng, trao đổi mô, nhằm mục đích khám chữa bệnh, đào tạo, nghiên cứu khoa học. Ngày 24-12, Bệnh viện Việt-Đức và Bệnh viện Nhi đồng 2 chính thức thông báo đã ghép thành công 6 tạng (1 tim, 1 gan, 2 phổi, 2 thận) cho 5 bệnh nhân từ một người cho chết não. Việt Nam đã làm chủ được các kỹ thuật ghép tạng quan trọng và thường gặp trong lâm sàng, như thận, tim, gan, tụy, phổi, tiến hành hơn 1.500 ca ghép mỗi năm với tỷ lệ thành công tương đương nhiều nước tiên tiến trên thế giới.

9. Xây dựng thương hiệu Việt chất lượng cao
Việc VinFast có mặt tại Paris Motor Show 2018-Triển lãm ôtô danh giá nhất thế giới-đã khẳng định vị thế của doanh nghiệp Việt và giúp điền tên Việt Nam lên bản đồ công nghiệp chế tạo ôtô toàn cầu. Tại sự kiện ra mắt xe VinFast ở Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phát động phong trào “Hàng Việt Nam chinh phục người Việt Nam,” thể hiện khát vọng xây dựng hệ thống thương hiệu Việt chất lượng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

10. Bệnh viện dã chiến đầu tiên của Việt Nam tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc
Ngày 1-10, Việt Nam triển khai một đơn vị độc lập-Bệnh viện dã chiến cấp 2, được phiên chế 63 thành viên–tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan. Trước đó, 29 lượt sỹ quan của Việt Nam cũng đã thực thi các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình tại Cộng hòa Trung Phi và Nam Sudan. Việc làm này thể hiện sự chủ động và trách nhiệm tích cực của Việt Nam trong các hoạt động của Liên hợp quốc.

Nguồn: TTXVN

Thứ Hai, 24 tháng 12, 2018

TẤM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI ĐỒNG BÀO THIÊN CHÚA GIÁO

Sinh thời, Bác Hồ kính yêu luôn quan tâm đến đồng bào tôn giáo, tôn trọng quyền tự do tôn giáo của các giáo dân và thực hiện đoàn kết tôn giáo. Trong tư tưởng của Người, xây dựng, củng cố và phát huy nguồn sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó đoàn kết với đồng bào thiên chúa giáo luôn là vấn đề sống còn, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng, quyết định sự tồn vong của dân tộc.

1. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian nan và thử thách, Bác Hồ đã có dịp đi nhiều nơi, tiếp xúc với nền văn hoá phương Đông và phương Tây, và trong quá trình thâm nhập đời sống thực tế, nghiên cứu các học thuyết chính trị, các giáo lý tôn giáo tại chính quê hương của nó, Người đã tiếp thu, kế thừa, đã chắt lọc những giọt tinh tuý của từng học thuyết tôn giáo. Người nhận thức rằng, Thiên chúa giáo cũng như các giáo lý tôn giáo khác đều hướng đến việc mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Vì vậy, Thiên chúa giáo bên cạnh ý nghĩa chính trị còn mang đậm yếu tố văn hoá, đạo đức. Với ý nghĩa đó, Thiên chúa giáo đã trở thành nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân lao động.
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Việt Nam - nơi có nhiều cộng đồng cư dân cùng sinh sống, nơi tín ngưỡng giữa đạo và đời đồng hành ngự trị trong đời sống tâm linh của người dân, Bác Hồ đã nhìn thấy những điểm chung của các bậc tiền nhân sáng lập Thiên chúa giáo. Người gạn lọc những tinh hoa trong kho tàng giá trị của đạo Thiên chúa những điều cần thiết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh dường như bao la, nhân ái hơn khi hoà đồng, kết hợp tâm hồn, đạo đức và cốt cách của con người Việt Nam với tư tưởng “cứu thế, độ dân, hy sinh cho tự do” của Đức Chúa GiêSu, để không chỉ giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, thực hiện sự tôn trọng tự do tôn giáo, mà còn luôn thực hiện đoàn kết với đồng bào đồng bào Thiên chúa giáo trong hành trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.
Là lãnh tụ của cách mạng, hơn ai hết Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rằng: đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết, nên muốn huy động sức mạnh của khối toàn dân đoàn kết, muốn toàn thể đồng bào cùng hiệp lực chống kẻ thù chung, thì tất yếu không thể không quan tâm đến vai trò của đồng bào Thiên chúa giáo. Ngay từ những năm lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền, Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm đến Thiên chúa giáo, đến các giáo dân và động viên họ góp sức mình vào sự nghiệp giải phóng. Vì vậy, ngay sau thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám 1945, cùng với việc tuyên bố Việt Nam độc lập, khai sinh nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã thực hiện một trong 6 nhiệm vụ cấp bách, đó là tuyên bố: “TÍN NGƯỠNG TỰ DO và Lương Giáo đoàn kết”.
Tiếp đó, tập trung thực hiện khẩu hiệu: Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì nhiều cuộc họp bàn về tôn giáo, bàn biện pháp để chống khiêu khích, bảo vệ khối đại đoàn kết giữa Lương và Giáo để giải quyết những vấn đề liên quan đến tôn giáo, đặc biệt là Thiên chúa giáo. Người từng nhấn mạnh: “Dân tộc có giải phóng thì tôn giáo mới giải phóng được. Lúc này chỉ có quốc gia, và không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi người đều là công dân của nước Việt Nam, và có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc”.
Bác Hồ, dù bộn bề công việc quốc gia đại sự vẫn không quên gửi thư chúc mừng đồng bào công giáo mỗi dịp Lễ Thiên chúa giáng sinh, đồng thời kêu gọi các giáo dân hãy vì “Tổ quốc trên hết, Dân tộc trên hết” mà ủng hộ sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trên tinh thần “thật thà tôn trọng tín ngưỡng tự do”, Người đã luôn thực hành nguyên tắc “vì đại cục” để kiên trì thực hiện đoàn kết giữa Giáo và Lương trong suốt những năm kháng chiến và kiến quốc.

2. Thực hiện sự chia rẽ khối đoàn kết của toàn dân, thực dân Pháp và các thế lực phản động luôn dùng chiêu bài kích động Cộng sản là kẻ thù không đội trời chung với tôn giáo. Không để kẻ thù chia rẽ và phá hoại sức mạnh của khối đoàn kết, đặc biệt là đoàn kết giữa đồng bào các tôn giáo, Bác Hồ không chỉ quan tâm đến vấn đề tôn gióa, mà còn mềm dẻo trong cách ứng xử với với các vị chức sắc tôn giáo, với các giáo dân. Nôen năm 1947, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở vào giai đoạn gay go, quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi lời chúc đến Giám mục Lê Hữu Từ, “kính chúc cụ mọi sự lành để phụng sự Đức Chúa và để lãnh đạo đồng bào công giáo tham gia kháng chiến, đặng tranh lại thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”, đồng thời “nhờ cụ chuyển lời tôi chúc phúc cho toàn thể đồng bào công giáo”. Người thành tâm “đề nghị toàn thể đồng bào công giáo trong kỳ lễ Nôen này cầu nguyện cho linh hồn các chiến sĩ giáo và lương đã bỏ mình vì nước và cầu nguyện cho Tổ quốc ta được thắng lợi”. Sau đó, trong bức thư gửi đồng bào công giáo toàn quốc nhân lễ Thiên chúa giáng sinh năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết rằng: “Đồng bào hãy cùng tôi cầu nguyện Chúa cho ngày thắng lợi sắp tới của dân tộc. Tôi cầu nguyện Chúa luôn luôn ban phúc lành cho đồng bào”. Đặc biệt, khi thực dân Pháp tấn công xứ đạo Bùi Chu, Phát Diệm, Nôen năm 1949, Người đã gửi thư chia sẻ những mất mát của các giáo dân vì đất Thánh bị xâm phạm, và đồng bào “đang đau khổ dưới gót sắt của giặc Pháp dã man”.
Vào những thời điểm nhạy cảm, Người đã linh hoạt trong từng quyết sách, từng bước giải quyết mâu thuẫn, giải quyết những xung đột nảy sinh giữa Lương và Giáo, giữa giáo dân và chính quyền cách mạng để củng cố và phát triển sự đoàn kết giữa Giáo và Lương. Mềm dẻo, đi sâu vào lòng người, luôn tôn trọng niềm tin của người dân vào giáo lý, Bác Hồ đã bằng tấm lòng thành, tầm nhìn xa, biện pháp linh hoạt để không chỉ giáo dục, giác ngộ tín đồ Thiên chúa giáo, mà còn thực hiện thành công chiến lược đoàn kết với đồng bào Thiên chúa giáo. Trên tinh thần đó, một mặt, Người kiên quyết với những kẻ đầu sỏ, chống đối cách mạng, trở thành kẻ thù của cách mạng, mặt khác, Người khoan dung, nhân ái với những người nhẹ dạ, cả tin, và vì thiếu hiểu biết mà bị lôi kéo, dụ dỗ vào con đường sai trái.
Xót xa, đồng cảm với những con chiên nhẹ dạ, cả tin, vì không hiểu mà bị dụ dỗ, rời miền Bắc đi theo “Chúa di cư vào Nam”, để rồi phải sống những tháng ngày khổ cực, thậm chí bị bắn, bị giết hại, dùng bút danh C.B, Bác Hồ viết và chỉ rõ những điều giả dối và tội ác của chính quyền họ Ngô trong bài báo: “Tội ác của Ngô Đình Diệm” đăng trên báo Nhân dân, ngày 29/9/1954. Nội dung bài báo như sau:
“Diệm là người công giáo cũng như xưa kia Giu-da là người công giáo. Diệm được thực dân Pháp dung túng, đã lợi dụng đạo Chúa để dụ dỗ và ép buộc một số đồng bào công giáo nhẹ dạ bỏ quê hương vào Nam.
Diệm hứa hẹn với họ: Vào Nam mỗi người sẽ được 3 mẫu ruộng, 2 con trâu, mỗi ngày được 35 đồng bạc, và được …lên Thiên đường.
Những khi lên Hà Nội, xuống Hải Phòng, thì nhiều đồng bào ấy đã lâm vào một cuộc đời lênh đênh, cực khổ. Lúc vào đến Nam lại càng vất vả. Chẳng thấy ruộng đâu, trâu đâu, mà cơm gạo hàng ngày nhiều khi cũng thiếu.
Không những thế, nội bộ bọn Diệm tranh quyền, đoạt lợi, xung đột lẫn nhau. Diệm mưu đẩy Hinh, Hinh muốn lật Diệm, chúng xúi dục những đồng bào ấy biểu tình, ủng hộ tên này, phản đối tên kia. Rồi chúng bắn xả vào đám đồng bào vô tội, làm nhiều người chết và bị thương, như đã xẩy ra trong những ngày gần đây.
Lợi dụng đạo Chúa để làm ô danh Chúa, lợi dụng đồng bào rồi giết hại đồng bào. Tội các của bọn Diệm thật là:
"Chẻ hết tre rừng không chép hết
Tát khô nước bể khó rửa xong!
Mặt khác, để khẳng định niềm tin của giáo dân vào chế độ XHCN ở miền Bắc, Người khẳng định: “Đồng bào công giáo các giới hăng hái tham gia mọi công việc xây dựng nước nhà... và con đường yêu nước mà đồng bào đang đi là hoàn toàn đúng”. Đó chính là tấm lòng của Bác Hồ với tôn giáo nói chung, với đồng bào Thiên chúa giáo nói riêng, thể hiện quan điểm đại đoàn kết - điểm cốt lõi trong hệ thống quan điểm tôn giáo của Người.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhằm ngăn chặn âm mưu của các thế lực phản động, lợi dụng tôn giáo hòng chia rẽ khối đoàn kết toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến vấn đề tôn giáo. Tấm lòng, sự quan tâm của Bác Hồ thể hiện trong nhiều bức thư, nhiều bài viết. Trong đó, Người động viên các giáo dân hãy sống tốt đời đẹp đạo, hãy “sống theo Đảng chết theo Chúa”, vì trong tư tưởng của Người, lòng yêu quê hương đất nước, yêu CNXH không đối lập, và dù là Lương hay Giáo thì mỗi người dân “con Rồng, cháu Lạc” đều có thể vừa là công dân tốt, vừa là tín đồ chân chính.

3. Từ những bức thư, từ sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Thiên chúa giáo, có thể cảm nhận được tấm lòng của Người với các giáo dân, dù họ đang sinh sống ở miền Nam hay miền Bắc, dù đã giác ngộ hay còn chưa được giác ngộ, đều chân thành và nhân ái, bao dung và thân tình. Có niềm tin mãnh liệt vào con người, tình cảm, tấm lòng của Bác Hồ với các tôn giáo nói chung, Thiên chúa giáo nói riêng dường như làm cho bao la nhân ái Hồ Chí Minh sâu sắc, đậm nét hơn. Và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng được nhân lên, mạnh hơn lên khi có sự góp sức của đồng bào Thiên chúa giáo. Nguồn sức mạnh to lớn đó đã không chỉ làm nên thành công của cuộc cách mạng tháng tám 1945, của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mà còn đưa đất nước Việt Nam XHCN ngày một phát triển và giàu mạnh.
Bác Hồ đã đi xa, nhưng tấm lòng của Người với đồng bào Thiên chúa giáo vẫn còn sâu đậm mãi. Vì dù đã đi xa, song những bức thư của Bác Hồ chúc mừng các giáo dân nhân dịp Lễ Thiên chúa Giáng sinh lúc sinh thời vẫn có ý nghĩa tinh thần to lớn đối với các con chiên của Đức Chúa. Năm 1958, khi trả lờicâu hỏi của các cử tri Hà Nội: "Tiến lên chủ nghĩa xã hội thì tôn giáo có bị hạn chế không?", Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định thái độ của những người cộng sản đối với tôn giáo: "Không. ở các nước xã hội chủ nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự do. Ở Việt Nam ta cũng vậy". Độc lập dân tộc và CNXH ở Việt Nam không chỉ là sự lựa chọn đúng, mà còn là con đường phát triển hợp quy luật thời đại. Dù là ai, nói thế nào và bằng phương cách gì, theo tôn giáo nào thì cũng vẫn thuộc về một dân tộc, vẫn không ngoài một khát khao được sống trong độc lập, tự do, hòa bình và được mưu cầu hạnh phúc.
Cùng với thời gian, tình cảm, sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Thiên chúa giáo vẫn không phai mờ. Ngày 12/6/1987, tại Hội thảo khoa học “Bác Hồ với Huế” do Thành ủy Huế tổ chức, linh mục Nguyễn Văn Ngọc đã kể lại sự quan tâm của Bác đối với đồng bào công giáo như sau: Năm 1949, khi Việt Minh bao vây thành phố Huế, linh mục Nguyễn Văn Ngọc lúc đó đảm đương việc ruộng đất của nhà chung tại giáo xứ Lương Văn có trách nhiệm cung cấp lương thực cho 600 linh mục, chúng sinh của dòng tu của thành phố Huế. Nhưng vì Huế đang bị bao vây nên không có cách nào chở gạo vào cho nhà chung. Linh mục đã gặp cán bộ Việt Minh có trách nhiệm, các đồng chí khuyên linh mục nên viết thư xin phép Bác Hồ. Linh mục đã đánh bạo viết thư gửi Bác mà không dám hy vọng nhận được thư trả lời. Nhưng một tháng sau, các đồng chí chuyển cho linh mục Ngọc một tấm thiếp có chữ ký, con dấu của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nội dung sau: Cho phép linh mục Nguyễn Văn Ngọc được chở 9000 thúng lúa lên thành phố Huế trong vòng 1 tháng để cấp cho nhà chung; Linh mục Ngọc được tự do đi lại trong tỉnh Thừa Thiên để coi sóc ruộng đất của nhà chung, tiếp tục trồng cấy, không được để ruộng đất bỏ hoang. Nhờ có “tấm giấy phép đặc biệt” ngày củ Bác Hồ, linh mục Nguyễn Văn Ngọc đã cứu nguy cho hơn 600 linh mục, giáo dân của thành phố Huế.
Bác Hồ là vị lãnh tụ cách mạng, là nhà hiền triết phương Đông, ở Người có sự kết hợp hoàn chỉnh giữa “đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của người chủ gia tộc. Tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”, và suốt đời phấn đấu hy sinh vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất, nhân dân Việt Nam và nhân loại cần lao hạnh phúc trong hòa bình.
Thực hiện đoàn kết tôn giáo bằng cách “luôn luôn coi tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng..., thực hiện đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau và trong nội bộ từng tôn giáo, đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo”, để “tập hợp đông đảo các tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước” theo những kinh nghiệm, những chỉ dẫn của Bác Hồ luôn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Ôn lại tình cảm, sự quan tâm của Bác Hồ đối với đồng bào Thiên chúa giáo trong dịp Lễ Thiên chúa giáng sinh năm nay, là thêm một lần thiết thực Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh- đạo đức nhân văn và bao dung vì hạnh phúc con người ./.

Nguồn: ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2018

TÌNH CẢM CỦA BÁC HỒ VỚI LIỆT SỸ VÀ CHIẾN SỸ

Năm 1946, trong cuộc chiến đấu 60 ngày đêm bảo vệ Hà Nội, Vũ Văn Thành, một chiến sỹ tự vệ Thủ đô đã anh dũng hy sinh. Biết tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp viết lá thư gửi bác sỹ Vũ Đình Tụng, người cha của liệt sỹ, nhằm bày tỏ sự cảm thông và chia sẻ nỗi mất mát đau thương với một người cha, một trí thức lớn của đất nước lúc bấy giờ.
Bức thư có đoạn vô cùng xúc động: “Ngài biết rằng, tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là cả đại gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột...”.
Thư Bác khiến bác sỹ Vũ Đình Tụng “nhớ đinh ninh từng lời”. Sau này, trong hồi kí, có đoạn ông viết, đại ý là chính Bác Hồ đã dạy cho ông một bài học lớn lao, biết đem tình cảm riêng của mình, của gia đình mình đặt vào trong tình cảm thiêng liêng của Tổ quốc, của dân tộc !
Xin được nói thêm: Bác sỹ Vũ Đình Tụng (1885 - 1972) quê Vụ Bản, Nam Định, một trí thức Công giáo giàu lòng yêu nước và sớm giác ngộ đi theo cách mạng. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhờ đức độ, lòng yêu nước và tài năng, bác sỹ được cất nhắc vào nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy của chính quyền mới, trong đó có chức vụ Bộ trưởng Bộ Thương binh, Giám đốc Nha Y tế Bắc Bộ, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Phó chủ tịch Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của nước ta... Một người cha có vị thế chính trị - xã hội như thế, mà con hi sinh oanh liệt ngoài mặt trận, điều ấy khiến chúng ta hôm nay càng bội phần cảm phục.
Với liệt sỹ thì vậy, với các chiến sỹ đang trực tiếp cầm súng ngày đêm đối mặt với quân thù, tình cảm của Bác Hồ biểu hiện ra sao? Có lần, tự đáy lòng mình, Bác thốt lên: “Chiến sỹ còn đói khổ, tôi ăn sao ngon được”. Mùa hè năm 1967, thời tiết Hà Nội nóng nực. Phòng Bác ở chủ trương không dùng điều hòa. Bác bàn với thư kí Vũ Kỳ: “Nắng nóng thế này, các chú bộ đội trực phòng không trên nóc Hội trường Ba Đình thì chịu sao được? Chú thử lên tìm hiểu xem, rồi về báo cho Bác ?”. Khi biết các cháu của mình đến nước chè còn chưa đủ uống, lấy đâu ra nước ngọt, Bác dùng số tiền tiết kiệm (chủ yếu là nhuận bút các bài báo của Bác), tất cả còn hơn 25 ngàn đồng (lúc đó tương đương với 60 lạng vàng); và Người yêu cầu mua nước ngọt cho các chiến sỹ đang trực chiến trên mâm pháo ở khắp miền Bắc. Số tiền đó chắc không đủ, Bác gợi ý thêm là địa phương nào có bộ đội phòng không trực chiến, thì cùng góp sức vào mà lo cho trọn vẹn.
Thời đất nước có chiến tranh, anh bộ đội trở thành nhân vật trung tâm, được mọi người nâng niu, quý trọng, dành mọi tình cảm và vật chất có thể để các anh hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang Tổ quốc giao phó. Người cán bộ lãnh đạo của Đảng, từ vị trí, trách nhiệm và điều kiện của mình, càng cần phải biết quan tâm hơn nữa tới người chiến sỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đó là một trong những phẩm chất không thể thiếu ở người cán bộ cách mạng.
Tại Hội nghị kiểm thảo chiến dịch đường số 18, tháng 5/1951, Bác căn dặn các cán bộ quân đội: “Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ chưa được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa có chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt...”. Cái ăn, cái mặc, cái ở thì ai ai cũng cần. Nhưng bộ đội phải được ưu tiên trước nhất. Người cán bộ suốt đời nên nhớ điều này.
Tình thương của Bác Hồ với liệt sỹ, thương binh và với chiến sỹ là tình cảm thật sự của một người cha đối với các con yêu của mình - rộng lớn, bao dung, ân cần, chi chút, máu thịt vô cùng... Nhờ vậy, không riêng gì Bác sỹ Vũ Đình Tụng, mà hầu hết đều tự nhiên thấy mình được an ủi, thấy nỗi đau và sự hi sinh của mình, của gia đình mình trở thành bé nhỏ trong tình thương mênh mông, trong sự hi sinh cao cả của vị Chủ tịch nước và của cả dân tộc Việt Nam !
Kim Hùng

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2018

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA CÁC NHÀ BÁO NƯỚC NGOÀI

“..Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi..”
- Trích trả lời phỏng vấn các nhà báo nước ngoài của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công bố rộng rãi trên Báo Cứu quốc, số 147, ngày 21-1-1946, Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, T. 4, Tr.161-162.

Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh trên núi Hoàng Sơn, năm 1965.

Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018

DANH SÁCH MỘT SỐ "TRÍ THỨC RỞM" ĐÒI BỎ ĐẢNG

1. Chu Hảo
- Vô trách nhiệm trong quản lý dẫn đến hỏa hoạn thiêu trụi toàn bộ máy móc sản xuất, tài liệu công trình nghiên cứu sản xuất máy tính nội địa đầu tiên ở Việt Nam trị giá hàng triệu đô la (năm 1988)
- Biến khu công nghệ cao Hòa Lạc thành khu đất nuôi bò, trong thời gian làm thứ trưởng.
- Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức sản xuất những ấn phẩm có nội dung đi ngược lại với Đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước.
- Cấu kết cùng với đám dân chủ xôi thịt, thường xuyên có những hoạt động tuyên truyền, chống phá Đảng và Nhà nước.
2. Nguyên Ngọc 
- Những năm 80 của thế kỷ trước, Nguyên Ngọc tranh cử chức Tổng Thư Ký Hội Nhà Văn với nhà văn Nguyễn Đình Thi và bị thất cử. 
- Khi làm TBT Báo Văn Nghệ , Phó TTK Hội Nhà Văn, Nguyên Ngọc đã cố vũ tiếp sức cho Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài đăng những truyện ngắn, tiểu luận chửi những danh nhân Việt Nam... Sau đó Nguyên Ngọc bị bắt phải từ chức TBT và cách chức Phó TTK Hội Nhà Văn Việt Nam.
- Do bất mãn nên từ đó Nguyên Ngọc liên tục kết hợp cũng những thành phần giống mình và đám dân chủ liên tục xuyên tạc, phản đối, chống phá lại đường đối chính sách của Đảng và Nhà nước.
3. Trần Nam 
- Quân hàm Trung tá và đã làm đến giám đốc Công ty Lâm Viên - BQP. Tuy nhiên do tắc trách nên phải chịu trách nhiệm trong việc làm thất thoát 5,5 triệu USD khi chuyển tiền góp vốn dự án Rulsaka trong vụ án Nguyễn Đức Chi. Lẽ ra nhóm lợi ích của Trần Nam này đã ẵm được 1 mớ, nhưng vì thua lỗ nên gã từ vai trò chính, từ thằng đại gia tiêu tiền như nước trở thành kẻ nguy cơ tù tội và mất tất. 
- Lúc còn làm việc, đương chức đương quyền sao không la lớn lên đi, giờ về hưu kiệt quệ rồi, hưởng đủ tiêu chuẩn của Đảng, của Chính phủ rồi thì quay lại chửi Đảng, bỏ Đảng, chẳng qua là chạy trước vì biết không bỏ Đảng thì Đảng cũng khai trừ, loại gã ra khỏi hàng ngũ mà thôi.

4. Đặng Xương Hùng 
- Đặng Xương Hùng sinh năm 1961, từng là cựu lãnh sự Việt Nam tại Geneve (Thụy Sỹ). Y từng hưởng nhiều ân sủng, lợi ích của chế độ này. Nhưng hắn quay ra bỏ Đảng, chống lại chế độ đã nuôi nấng hắn, giúp hắn nên người.
- Đặng Xương Hùng đã từ bỏ cương vị Lãnh sự quán để nộp đơn xin tị nạn chính trị tại Thụy Sỹ. Lúc đầu, nhà chức trách nước này đã từ chối vì lí do nêu ra để xin tị nạn của Hùng và gia đình không thuyết phục. Thuỵ Sỹ cho rằng muốn được hưởng quy chế tị nạn chính trị, hắn phải chứng minh được hắn là nạn nhân của chính quyền, chế độ do đàn áp, hành hạ, phân biệt chủng tộc,…
- Vậy là hắn đành “tự tạo điều kiện” cho mình bằng cách viết đơn xin ra khỏi Đảng. Trong đơn, hắn không quên chửi Bác Hồ, chửi Đảng Cộng sản. Và giờ đây, nhà chức trách Thuỵ Sỹ đã cho hắn “được hưởng quy chế của tị nạn chính trị”.
5. Lê Văn Hòa 
- Hòa sinh năm 1956, hiện là cán bộ hưu trí. Nhưng trước khi nghỉ hưu ông từng là Chuyên viên Cao cấp bậc 5/6-hàm Vụ trưởng Vụ 4, Ban Nội chính Trung ương (BNCTW); nguyên Phó vụ trưởng Vụ Nội chính - Văn phòng Trung ương (VPTW). Do kiện cáo nội bộ, gây mất đoàn kết trong Ban Nội chính nên sinh ra thù hằn cá nhân, bất mãn chế độ.
- Trước khi chính thức trả thẻ đảng và tuyên bố ra khỏi đảng, Lê Văn Hòa đã không thực hiện nghĩa vụ của người đảng viên được quy định trong Điều lệ đảng khi liên tục không đóng đảng phí trong thời gian 09 tháng. Cho nên, dễ thường suy ra từ điều này thì có thể ông Hòa xin ra khỏi đảng để trốn tránh việc đóng đảng phí khi tổ chức đảng trong quá trình công tác không cất nhắc Hòa lên những vị trí cao hơn.
6. Mạc Văn Trang 
- Mạc Văn Trang từng là PGS, TS có bố là Mạc Văn Tự 1 thành phần phá hoại CNXH, từng có tiền sử chống đối lại tập thể ở địa phương, đã được biên vào sách văn học với cái tên Lão Am. Lão Am là một trong những nhân vật chính của tiểu thuyết “Cái sân gạch” và “Vụ lúa chiêm”- hai trong bốn cuốn sách đã đưa nhà văn Đào Vũ đến với Giải thưởng Nhà nước (đợt I) về văn học - nghệ thuật.
- Vì lý do này Mạc Văn Trang từ năm 2000 đã có những dấu hiệu tự diễn biến, chuyển hóa, tham gia viết bài cho những trang chống phá Nhà nước như Đàn Chim Việt, BBC...
7. GS Tương Lai 
- Tuyên bố bỏ Đảng Cộng Sản nhưng vẫn giữ tư cách Đảng Lao Động dưới thời chủ tịch Hồ Chí Minh, chẳng qua đây là 1 dạng thần kinh ảo tưởng của đám tri thức hết thời, định lôi kéo các anh chị già từ thế hệ trước để thành lập 1 chính đảng nhằm mục đích đón lõng thời cơ nếu như ở Việt Nam có diễn biến hòa bình... Tiếc thay chả có ai tham gia cùng anh già Tương Lai cả.
8. Lê Văn Thương 
- Từng là Thương úy trong QĐND Việt Nam, nhưng trong quá trình công tác đã gây mất đoàn kết nội bộ, đấu đá kiện tụng gây rối loạn đơn vị, sau đó bị cho ra quân, tạm đình chỉ sinh hoạt Đảng. 
- Sau khi về địa phương, Thương đã điên cuồng lên mạng học làm phản động qua các clip của Lisa Phạm, Huỳnh Quốc Huy, Đào Minh Quân, rồi cũng livestream chống cộng. Hiện tại đang trốn qua Thái Lan để hi vọng được đi Mỹ tị nạn, nhưng xem ra với lý lịch chống cộng nghèo nàn của Thương thì đến hết đời cũng ko được đi tị nạn.

9. Hoàng Công Cương
- Thành viên No U , bạn thân của đám chó lợn Nguyễn Lân Thắng, Bùi Hằng, Võ Hồng Ly, Lê Thị Mỹ Hạnh, đã bỏ sinh hoạt và bị gạch tên từ lâu, nhân dịp này cũng đăng cái ảnh thẻ đảng cũ để kiếm ăn...

10. Dương Bích Hà
- Giảng viên âm nhạc nhưng thương xuyên kiện cáo, sân si trong các cuộc thi âm nhạc, do làm biên đạo của các tiết mục sau khi đi thi không được giải thường xuyên tổ chức kiện tụng để che đi năng lực hạn chế của mình, những người làm trong ngành nghệ thuật thì không lạ gì nhân vật này... Từ đó sinh ra bất mãn thường xuyên có những phát biểu mang tính chống phá, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước...


Qua danh sách và thành tích tóm tắt này chúng ta có thể nhìn thấy bản chất của 1 đám phản động, bất mãn, hoang tưởng giả danh tri thức, sau khi đã hưởng mọi chế độ, ân sủng của nhà nước, của nhân dân, khi về già không lo tích đức cho con cháu mà đi phản bội lại chính cuộc đời mình, phản bội nhân dân, phản bội Đất nước...Liệu số lượng vài Đảng viên biến chất này có nghĩa lý gì so với con số 4 triệu Đảng viên trong mọi tầng lớp nhân dân đang cùng với nhân dân cả nước phấn đấu để Tổ quốc Việt Nam ngày một giàu mạnh và tiến bộ ....